Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ (1923-2009)

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ

Nhớ về thầy Lê Đình Kỵ, trong tôi hiện về hình ảnh của một nhà sư phạm mẫu mực. Là tấm gương của tinh thần tự học, tự nâng cao mình để không tụt hậu trước tri thức, khi dạy chúng tôi thì thầy cũng truyền cho cảm hứng đó.

1. Sống trên đời, chỉ có người xấu chứ không nghề nào xấu, bởi một khi những ai phải đổ mồ hôi để có thu nhập thì đều đáng quý. Tuy nhiên, trong các nghề ấy, chắc chắn tự thâm tâm ta luôn biết ơn và dành nhiều thiện cảm cho nghề nhà giáo. Vì rằng, đó là một nghề mà ta luôn liên tưởng đến vị thần Prometheus trong thần thoại Hy Lạp. Vị thần lấy trộm lửa từ thần Mặt trời đem về cho thế gian. Ngọn lửa ấy chính là Ánh sáng, là Tri thức, là mở ra một đường đi, dẫn đến một thế giới mới thoát khỏi mông muội, tăm tối… Chính vì nghĩ nôm na như thế nên tôi thích nhìn hình ảnh người thầy qua hình tượng của thần Prometheus hơn là "người đưa đò". Các người thầy đã đào tạo được nhiều học trò thành đạt. Hình ảnh ấy, không phai nhạt theo năm tháng.

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ -0
Chân dung Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Lê Đình Kỵ.

Về thầy Lê Đình Kỵ, mới nhất hiện nay là bộ sách "Trăm nay một thuở - Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân, Nhà lý luận, phê bình văn học Lê Đình Kỵ" (NXB TH TP.HCM-2023). Những bài viết này đã đánh thức trong tôi xiết bao kỷ niệm về tình thầy, tình bạn - nói như nhà thơ Trương Nam Hương đây chính là lúc:

Về đây hỡi tháng năm trong trẻo
Ký ức xanh như mắt nắng xanh ngời
Câu thơ viết cuối giảng đường - thổn thức
Gọi tên từng thương nhớ… bạn bè ơi!

Thoáng đó, những cô cậu sinh viên ngày nào, mặt còn búng ra sữa đã lên chức… chồng/vợ đùm đề con cái, thậm chí đã thành ông nội, bà ngoại, nhưng khi nhớ về ngày tháng ấy, hầu như trong lòng ai cũng dạt dào một niềm cảm xúc tươi mới. Năm tháng ấy, nhìn từ bộ sách này, chúng ta thấy các thế hệ đã "vẽ" lại khá rõ nét về thầy Lê Đình Kỵ.

2.Tôi nhớ và thích thú biết tính đãng trí của thầy thật đáng yêu và không kém phần hài hước, rằng ngày nọ có lịch dạy sinh viên nhưng thầy lại… quên. Tác giả Phạm Quang Long (nguyên Giám đốc Sở Văn hóa thông tin Hà Nội) kể: "Tôi chạy lên gõ cửa phòng, thấy thầy đang ngồi viết. Tôi bảo: "Thầy quên dạy cho lớp Văn 4 à?". Thầy hỏi: "Hôm nay thứ mấy?". Tôi đáp thứ Tư. Thầy giật mình: "Thứ tư thì có giờ rồi".  Rồi sấp ngửa vừa mặc áo, vừa nhặt tập tài liệu đi xuống lớp" (SĐD, tr.158). Tôi thích chi tiết này, bởi lẽ đã không ít lần chứng kiến thầy mặc áo nhưng… cài nhầm hàng cúc áo.

Nói chung, hình thức vẻ ngoài của thầy bình dị lắm. Có gì đó khiến ta vừa thấy gần gũi vừa biết rằng, ở con người ấy hình thức bề ngoài không quan trọng lắm đâu. Vấn đề là trong đầu đã suy nghĩ, nung nấu điều gì về học thuật, về nghiên cứu, lý luận phê bình. Một đồng nghiệp của thầy là thầy Trần Hữu Tá cho biết: "Bắng lối sống giản dị có khi đến đơn giản ấy, Lê Đình Kỵ luôn dễ hòa vào đám đông, ít ai chú ý đến anh, và ngược lại anh hình như cũng chẳng đặt vấn đề phải chú ý đến sự đời phiền toái. Hầu như toàn bộ thời gian anh dành cho việc đọc, nghĩ và viết" (SĐD, tr.503).

Không chỉ thời đó, ngay cả bây giờ hầu như vẫn chưa có nhiều người "dấn thân" vào lãnh vực phê bình văn học, vì thế, điều thầy Lê Đình Kỵ mong mỏi còn là sự tiếp nối của các thế hệ sau: "Đã có ai đó đem cái hào quang của sáng tác để phủ lấp ý nghĩa của phê bình, nghiên cứu. Đặt vấn đề hơn thua giữa sáng tác và phê bình để làm gì chứ? Vấn đề là chất lượng. Nhưng khác với sáng tác là số người phê bình quá ít, nhất là giới trẻ càng hiếm, không mong gì lượng đổi thành chất được" (SĐD, tr.394). Soi rọi trong tình cảnh hiện nay, câu nói này vẫn còn ý nghĩa thời sự.

Nhớ về thầy Lê Đình Kỵ, trong tôi hiện về hình ảnh của một nhà sư phạm mẫu mực. Là tấm gương của tinh thần tự học, tự nâng cao mình để không tụt hậu trước tri thức, khi dạy chúng tôi thì thầy cũng truyền cho cảm hứng đó. Không chỉ viết giáo trình, tai liệu giảng dạy như "Cơ sở lý luận văn học" (1965), "Những nguyên lý lý luận văn học" (1987)… thầy còn tập trung thời gian hoàn thành "Truyện Kiều và chủ nghĩa hiện thực" (1970), "Tìm hiểu văn học" (1984), "Thơ mới - những bước thăng trầm" (1988)… Trong tư duy của một con người "học nhi bất yếm, hối nhân bất quyện" - học không biết chán, dạy không biết mệt ở thầy còn là một nhà nghiên cứu nghiêm túc, nhiều tâm huyết.

Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ -1
Hai bìa sách của GS - NGND Lê Đình Kỵ.

Một trong nhiều vấn đề mà thầy Lê Đình Kỵ tâm đắc vẫn là "Truyện Kiều". Với Thúy Kiều, thầy đã nhìn thấy: "Ở Thúy Kiều, ta gặp lại những khát vọng tình cảm, cái hy sinh quên mình, cái đảm đang hiện thực của người phụ nữ Việt Nam, mà ta được biết qua ca dao và các truyện dân gian thời xưa:

Con người thế ấy, thác oan thế này

Con người ấy, cái sức sống chứa đựng trong con người ấy, xã hội phong kiến không thể dung nạp được. Đó là nguồn gốc của tấn bi kịch đời Kiều. Thực chất những hồng nhan bạc mệnh, tài mệnh ghét nhau là ở đó. Và niềm cảm thông vô hạn của nhân dân Việt Nam, của những người lao động bình thường đối với Thúy Kiều cũng là ở đó" (SĐD, tr.172).

Bên cạnh đó, thầy cũng có "mắt xanh" với Thơ mới, chính vì thế mới hạ bút: "Thơ mới đã đóng góp hàng trăm bài thơ hay, trong đó có không ít bài thơ có thể xếp vào loại hay nhất của nền thơ ca dân tộc" (SĐD, tr.268).

Những suy nghĩ của thầy về những vấn đề liên quan đến công việc nghiên cứu vẫn còn ý nghĩa đối với thế hệ sinh viên hiện nay. Đã đành thế, trong suy nghĩ của tôi, tinh thần đại học không chỉ tiếp thu tri thức, kiến thức của thầy, mà, cần phải trang bị thêm tinh thần phản biện nữa. Nói như thế, vì hơn ai hết các bậc thầy tầm cỡ như thầy Lê Đình Kỵ bao giờ cũng mong muốn ở môn đệ của mình. Nghĩ cho cùng, đó là tính dân chủ trong học thuật.

3.Hình ảnh của thầy Lê Đình Kỵ nhìn ở góc độ đời thường, có điều gì đó khiến ta nhói lòng vẫn là lúc nghĩ về đời sống của nhà giáo thuở trước. Không cần phải vòng vo, uốn éo phải nói thật rằng thời ấy các thầy nghèo. Nghèo lắm.

Với mẩu hồi ức của con gái thầy là Lê Ly Ly, thú thật, với tôi, có điều gì đó thật xốn xang, thương cảm: "Tôi nhớ, có lần hai cha con tôi đạp xe đạp chở những bộ sách ba thu hồi từ Fahasa (Công ty phát hành sách) về nhà. Cha gò lưng đạp chiếc xe chở đầy sách nặng dưới trời nắng thật gắt, về gần đến nhà thì một bó sách bị sút dây, rơi vương vãi ngoài đường. Nhìn hoảng hốt cuống quýt lượm từng quyển sách, vuốt sạch nhũng quyển bị bánh xe của người đi đường hằn lên, nước mắt tôi cứ rơi đầy xót xa. Tôi nghĩ "không thể tiếp tục như vậy mãi được, mình phải làm gì đó khác thôi". Tôi từ bỏ ước mơ làm cô giáo, bởi nghề giáo của mẹ tôi nghèo quá, cực quá. Tôi mong khi tôi đi làm thì mẹ tôi sẽ không còn mối bận tâm về chuyện tiền bạc, và dáng khắc khổ, tất bật của sẽ được thay bằng vẻ ung dung, an nhiên cho tuổi già… Tôi thương không còn khi chúng tôi đã trưởng thành, đã có thể sống chất lượng hơn" (SĐD, tr.539).

Dù là thế, một thời đã qua nhưng trong hoàn cảnh đó mội trường sư phạm đã có không ít bậc thầy mẫu mực. Nhiều thế hệ sinh viên đã giữ lại trong tâm trí vị thần Prometheus - các bậc thầy kính yêu thuộc thế hệ "trí thức vàng" - những cây đại thụ trong nghề, làm rạng danh nền học thuật nước ta như các thầy Lê Trí Viễn, Đinh Gia Khánh, Trần Đình Hượu, Bùi Văn Nguyên, Hoàng Như Mai, Lê Đình Kỵ... Nhớ về thầy Lê Đình Kỵ, một nhà nghiên cứu rất mê "Truyện Kiều", tôi xin lẩy câu Kiều tưởng nhớ:

Dẫu rằng sông cạn đá mòn
Con tằm đến thác vẫn còn vương tơ
Bước vào chốn cũ lầu thơ 
Cũng may dây cát được nhờ bóng cây.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.