Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

image001.jpg -0
Tranh minh họa cho “Kinh Gò Mối”.

Ví như “Sự tích loài mối”, kể có một chàng trẻ tuổi nhà giàu, chỉ muốn lấy vợ đẹp như tiên. Khi bố mẹ qua đời mà vẫn chưa lấy được ai là “tiên”. Chuyện đến tai Ngọc Hoàng, ngài liền sai một nàng tiên... Giả dạng cô gái nhan sắc tầm thường nhưng tháo vát, “nàng tiên” đến xin làm thị tỳ cho chàng trai nọ. Từ khi có nàng, cơm canh ngon hơn, nhà cửa sạch sẽ, ngăn nắp hơn. Đã có ý khen người giúp việc, có “công” (công việc) tốt, nhưng nghĩ đến “dung” (sắc đẹp), ông chủ lại thôi ngay ý định…

Hôm ấy nhân ông chủ đi tìm vợ, nàng ở nhà hóa thành một người xinh đẹp tuyệt trần. Khi trở về, bao sửng sốt, ngỡ ngàng… Hiểu chuyện, chàng trai rồi rối rít xin lấy nàng làm vợ. Nhưng “tiên” xin chào tạm biệt, rồi bay về trời. Tiếc đứt ruột, chàng hóa thành con mối suốt ngày chắt lưỡi tiếc, tiếc, tiếc quá... Câu chuyện là bài học: phải biết mình là ai, đừng kén chọn quá, có khi hạnh phúc ở ngay bên cạnh mà không chịu hiểu, không biết giữ, để rồi “bay” mất.

Lại có truyện “Con mối làm chứng”, kể lão nhà giàu tới nhà nọ đòi nợ, chỉ gặp đứa bé. Hỏi bố mẹ, nó nói, bố đi “nhổ cây sống trồng cây chết”, mẹ đi “bán gió mua que”. Không hiểu, lão gạ giải thích sẽ trừ hết nợ. Em đòi vật chứng. Lão chỉ con mối đang đậu trên bậu cửa. Em mới giải thích, bố đi cấy, là “nhổ cây sống, trồng cây chết”; mẹ đi bán quạt mua tre, là “bán gió mua que”. Ngẩn người, lão ra về. Hôm sau, lão lại đến đòi.

Việc đưa lên quan. Em bé kể lại đầu đuôi câu chuyện. Quan hỏi nhân chứng. Em bé nói có con mối đang leo cột nhà. Nghe thế, lão nhà giàu vội cướp lời cãi: con mối đậu bậu cửa, chứ không phải leo cột nhà. Quan liền phán, thế là chuyện hứa trừ nợ có thật. Lão cứng họng tiu nghỉu, vì thua trí một đứa trẻ. Ca ngợi em bé thông minh, nhưng cũng bật ra bài học: kẻ tráo trở thường để “tòi” ra bản chất sự thật.

Truyện ngụ ngôn “Con mối và con kiến” có tính giáo dục cao, đã được đưa vào giảng dạy chương trình phổ thông. Kể về con mối lười biếng, có hại, quen đục khoét tủ hòm, sống trong bóng tối, đã thế lại thường hay tự phụ “Chúng ta đây chẳng hề khó nhọc/ Mà ồ ề béo trục béo tròn/ Nhà cao cửa rộng tủ hòm thiếu đâu”. Đối lập với loài mối là hình ảnh những chú kiến chăm chỉ, ngày đêm làm việc tích trữ lương thực cho đàn cho tổ. Truyện gửi gắm bài học về giá trị của lao động, bổn phận và trách nhiệm của mỗi công dân với cộng đồng. Mối biểu hiện cho lối sống ỷ lại, hưởng thụ, ích kỷ; kiến tượng trưng cho sự siêng năng, có trách nhiệm, giàu lòng tự trọng.

Là loài côn trùng có lịch sử tồn tại hơn 200 triệu năm, với hơn 2.700 loài được biết đến, mối sống theo bầy đàn, các cá thể đảm nhận nhiệm vụ khác nhau trong tổ có khi cao tới hơn 10m, rộng 15m. Tổ mối được làm bằng đất trộn với nước bọt, có tác dụng như cái điều hòa nhiệt độ (ở khoảng 31 độ C). Bí quyết nằm ở hệ thống lỗ thông gió phía dưới tổ giúp tránh nóng và thông khí.

Tại rừng Miombom (Congo - châu Phi), người ta tìm thấy một gò mối bỏ hoang hơn 2.200 tuổi. Mối châu Phi có ích cho đất đai. Nhờ chúng đào bới đã vô tình tạo ra những rãnh nhỏ, qua đó bổ sung dưỡng chất cho cây trồng phát triển, bằng việc làm tăng lượng khí nitơ trong đất. Người nông dân đặt những thanh gỗ mục trên mặt đất nhằm thu hút loài mối, trồng chuối gần những tổ mối, trồng những loại rau quả bên trên tổ mối…

Vì sao voi châu Phi, thậm chí có cả phụ nữ thai nghén thích ăn đất tổ mối? Theo khoa học, ngoài đặc trưng là đất sét, bùn, cát mịn cùng chất hữu cơ, đất mối giàu dinh dưỡng, đặc biệt là có canxi, magiê, kali, natri và phốt pho. Voi hay người ăn là để thêm muối. Thế nên, đất này làm phân bón rất tốt cho cây trồng. Nó còn được sử dụng như một loại thạch cao làm cho các bức tường nhà bền và mịn hơn.

Nông dân vùng nam Zambia còn lấy đất từ các tổ mối hoang để xây nhà, làm lò nung, nồi nấu ăn (nồi đất). Các gò mối cũ được thợ rèn sử dụng để chiết xuất các khoáng chất như sắt. Ở nhiều nơi, người ta tìm bắt mối chúa làm thức ăn dinh dưỡng, rất tốt cho phụ nữ ốm hay trẻ em suy dinh dưỡng. Cá biệt có vùng, khi ai đó được ăn mối chúa, người đó phải ở đẳng cấp cao hoặc được tôn trọng.

Cả ở văn hóa châu Phi, châu Á, không phải là con mối, mà là ụ mối, tổ mối, gò mối mới là hình ảnh ấn tượng trong tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. Hình như có một mối liên hệ nào đó giữa gò mối với tổ tiên, ma quỷ, linh hồn, phù thủy… Nhiều nơi trẻ em được dạy phải cung kính cúi chào gò mối. Có vùng ở châu Phi (cộng đồng người Azande), mỗi gia đình đều có quyền sở hữu vĩnh viễn đối với các gò mối, ngay cả khi di chuyển đến nơi mới, quyền này vẫn giữ nguyên. Do vậy,  gò mối thường là nơi dùng làm hầm mộ hoặc để đặt chiếc bình đựng linh hồn tổ tiên.

Ở vùng núi phía Bắc nước ta, cũng có nơi có quan niệm tương tự. Lại có nhiều nơi xuất hiện ụ mối to hình Phật, hoặc người ta đẽo gọt cho giống hình Phật, thế là thu hút bao người hiếu kỳ… Gạt bỏ lớp mê tín bề ngoài, cho thấy một nét tín ngưỡng ẩn sâu: tổ mối mang tính tâm linh. Ở Campuchia, hành vi đập cây gậy vào tổ mối để cầu mưa. Theo một giải thích, trong tín ngưỡng cổ xưa, có thể nguồn gốc từ Ấn Độ, có một mối liên hệ giữa tổ mối với “vật chất nguyên thủy” (materia prima).

image003.jpg -1
Một tổ mối ở châu Phi.

Có một nét tâm linh trong nhiều truyền thuyết của ta hay kể, người nào đó tài năng, có công lao, hoặc chết oan được mối nhanh chóng đùn lên thành mộ. Mộ đó sẽ rất thiêng. Con cháu người đó sẽ được phù hộ độ trì ăn nên làm ra, công thành danh toại... Mộ nhà ai “kết” (kết mối, còn gọi là “mộ mối”), thì giữ nguyên thờ phụng. Nếu phá đi, con cháu sẽ bại hoại.

Theo tâm linh, có ngôi mộ kết mối, là nhờ nơi đó tích tụ được một nguồn năng lượng tâm linh rất lớn, khiến phần mộ có hiện tượng trương nở ra. Thế nào là mộ kết mối? Trên mộ đó cây cỏ mọc tốt, xanh tươi, đất nở ra, khiến mộ to hơn ban đầu. Bẻ một nhánh cây để khô rồi cắm vào đất mối, nếu lá xanh trở lại, là đúng. Phải chăng từ điều này mà “phái sinh” ra thành ngữ: “Mồ cha không khóc lại khóc đống mối”, có ý chế bai sự ngộ nhận, nhầm lẫn. Dạy ta mọi việc phải cân nhắc, xem xét, tính toán kỹ, kẻo dẫn đến sự vô duyên, thậm chí có hại.

Theo gợi ý của “Từ điển biểu tượng  văn hóa thế giới” (Nxb Đà Nẵng 2002) có nói tới quan niệm cổ xưa về tổ mối trong văn hóa Ấn Độ, chúng tôi tìm vào Kinh Phật, được đọc “Kinh Gò Mối” (Vammika sutta) rất đáng suy ngẫm.

Nhà Phật lấy ngụ ngôn này làm bài học truyền giáo, “xiển dương” đạo hạnh. Kể rằng một vị Thiên tôn với hào quang rực rỡ đến bảo một Tôn giả: “Tỷ-kheo, Tỷ-kheo! Gò mối này ban đêm phun khói, ban ngày chiếu sáng”. Người nói tiếp: “Này kẻ trí, hãy cầm gươm và đào lên…”. Lần lượt đào các thứ: cái then cửa, con nhái, con đường hai ngả, đồ lọc sữa, con rùa, con dao phay, miếng thịt, và con rắn hổ.

Giảng rằng: Gò mối là biểu tượng cho thân xác con người không thể tránh khỏi sự vô thường, biến hoại. “Khói ban đêm và ánh sáng ban ngày” là ẩn dụ cho những suy tư, suy nghĩ ban đêm và hành động ban ngày. Cây gươm ẩn dụ cho trí tuệ của bậc Thánh, là công cụ để loại bỏ vô minh, tham ái. Các hình ảnh “then cửa, con nhái, con đường hai ngả, đồ lọc sữa, con rùa, con dao phay, miếng thịt, con rắn hổ” là “từng bước mô tả quá trình tu tập và loại bỏ những chướng ngại, từ vô minh, phẫn nộ, nghi ngờ,…” để đến cuối cùng là sự diệt trừ mọi tham, sân, si.

Đó là bài học về sự vô thường và tầm quan trọng của việc tu tập trí tuệ và đạo đức, để đạt đến sự giải thoát. Đấy cũng là cuộc hành trình nội tâm đầy thử thách loại bỏ những phiền não, vươn đến sự thanh tịnh và giác ngộ. Không thể hiểu hết thâm ý, căn cứ vào nội dung lời giảng, cũng cho thấy một hình dung gò mối phải thật to, mới có thể “chứa” được những hình ảnh ẩn dụ trên. Phải chăng lời Kinh hé mở một bí mật nào đó nằm trong “gò mối”? Lại có thể hiểu gò mối là một mã văn hoá bao bọc nhiều lớp nghĩa, muốn hiểu phải công phu bóc từng lớp để đi đến nghĩa cuối cùng…!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn: Thơ tình thầm lặng tỏa hương

Trong nền thi ca đương đại Việt, nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn là gương mặt nữ tiêu biểu chiếm được cảm tình đặc biệt của bạn đọc. Thành công nhất ở chị là mảng thơ tình yêu bởi sự đa dạng, tinh tế, đậm một phong cách riêng.