“Con đường văn sĩ” đầy trăn trở của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng

Nhân kỷ niệm 112 năm ngày sinh nhà văn Nguyễn Huy Tưởng (6/5/1912 - 6/5/2024), NXB Kim Đồng có buổi giao lưu và ra mắt sách "Con đường văn sĩ" - nhật ký của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng từ năm 1938 đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng với "mộng văn chương" đã từ một "công chức sở Tây" sớm tham gia các phong trào yêu nước, trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Hội Văn hóa Cứu quốc, là đại biểu Quốc hội khóa I (1946), thành viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, là người sáng lập - Giám đốc đầu tiên của NXB Kim Đồng.

Cuốn sách "Con đường văn sĩ" do ông Nguyễn Huy Thắng - con trai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng biên soạn. Theo chia sẻ của ông Nguyễn Huy Thắng, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng bắt đầu viết nhật ký từ năm 1930, khi 18 tuổi, nhưng phải đến năm 1938 nhật ký Nguyễn Huy Tưởng mới thực sự trở thành những trang viết thường xuyên, liên tục, được duy trì gần như một thói quen hằng ngày.

“Con đường văn sĩ” đầy trăn trở của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng -0
Chân dung nhà văn Nguyễn Huy Tưởng thời trẻ (năm 1936) được nhóm họa sĩ của tổ chức “Trái tim người lính” phục dựng thành ảnh màu.

Chàng thanh niên Nguyễn Huy Tưởng ngày đó là một người có lý tưởng, có nội tâm phong phú nên tâm niệm việc viết nhật ký một cách chân thật về cuộc đời mình, đồng thời là một biện pháp để ông trau dồi ngòi bút. Cuốn sách "Con đường văn sĩ" được biên soạn gồm 3 phần, giữa phần 1 và phần 2 là "Một thiên ký sự" những trang nhật ký về một tháng tân hôn đặc sắc của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng với người vợ, người bạn đời Trịnh Thị Uyên mà ông rất mực yêu thương, trân trọng.

Trong suốt những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết khao khát cống hiến nhưng cũng đầy băn khoăn tìm con đường đi cho mình, Nguyễn Huy Tưởng đã chọn nhật ký là nơi vừa giãi bày, vừa luyện viết. Là những trang viết riêng tư, song nó đã cho độc giả thấy rõ nét "Con đường văn sĩ" mà nhà văn lớn sau này phải đi qua. Nguyễn Huy Tưởng đã tốt nghiệp bậc Thành chung và thi đỗ vào làm thư ký ở nhà Đoan (Sở Thuế quan) Hà Nội, nhưng vẫn luôn bị "con ma văn chương ám ảnh". Từ một công chức sở Tây, Nguyễn Huy Tưởng đã xác định dứt khoát với con đường trở thành văn sĩ, thể hiện quyết tâm theo đuổi đến cùng để trở thành nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, nhà hoạt động cách mạng sau này...

Có thể thấy, con đường nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đến với văn chương không hề dễ dàng, mà nhà văn luôn phải trăn trở, vật lộn với chính mình để tìm đường đi, thử nghiệm, dấn thân qua nhiều thể loại như thơ, tiểu thuyết lãng mạn, tiểu thuyết lịch sử, kịch trước khi định hình được phong cách, sở trường của riêng mình.

Ông cũng từng háo hức làm thơ, từng có thơ đăng trên Tạp chí Nam Phong khi mới ngoài 20 tuổi, từng muốn bàn với vợ bán vòng vàng để có tiền in tập thơ "Nhất điểm linh đài". Nhưng rồi ông cũng đã nhận ra rằng, thơ không phải sở trường của mình: "Ngồi nói chuyện với cháu Sa, thấy rằng mình không có tài làm thơ. Chi bằng viết văn xuôi, viết tiểu thuyết. Đi con đường của mình vậy" (nhật ký ngày 18/11/1940).

Nhưng, theo những dòng nhật ký mà ông để lại, đến giữa năm 1942 nhà văn Nguyễn Huy Tưởng vẫn còn vương vấn với thơ: "Làm bài thơ về Lê Lợi, thấy kém. Buồn man mác. Thơ của mình không có cái gì mới mẻ cả. Nhưng, cũng vì bài thơ không hợp ý ấy nên nhất định viết kịch "Vũ Như Tô" (nhật ký ngày 22/5/1942).

Trong những năm tháng đầy trăn trở và loay hoay tìm con đường đi cho mình ấy, nhiều lần Nguyễn Huy Tưởng coi "văn chương chính là kẻ thù của ta vậy", nhưng ông vẫn quyết tâm, không ngừng tìm kiếm, khám phá, trải nghiệm bản thân. Trong nhật ký ngày 24/4/1938, ông viết: "Văn chương! Văn chương mãnh liệt đã tranh đoạt lại kẻ tù nhân đang trốn chạy. Tôi hơi sợ vì tôi thấy tôi không có chút tài văn chương nào, mà tôi chỉ mơ tưởng làm những sự nghiệp văn chương to tát. Bấy lâu, bao nhiêu những lý tưởng thiết thực của tôi đều bị lý tưởng văn chương đánh đổ và thành bị bỏ dở. Văn chương, phải chăng ngươi là người bạn không rời của ta, quyết bắt ta đem ngòi bút mà ca tụng cái hay, cái đẹp? Văn chương, ngươi phải chăng là lý tưởng tuyệt đích của ta? Văn chương, hay ngươi chỉ là sức mạnh phá hoại công trình của ta, là một bà tiên nham hiểm và độc ác quyến rũ ta và làm cho ta xa cách cuộc đời thực tế?...".

Nhờ những suy tư, trăn trở đến dằn vặt ấy của Nguyễn Huy Tưởng trong những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết và hoài bão đó, mà văn học - kịch nghệ Việt Nam đã có thêm một tên tuổi rực rỡ. Chỉ trong 20 năm sáng tác, nhà văn Nguyễn Huy Tưởng  đã cho ra đời 6 vở kịch, 5 tiểu thuyết và trên 10 tác phẩm viết cho thiếu nhi, đã đoạt nhiều giải thưởng, được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt 1, năm 1996) và kho tàng văn học Việt Nam hiện đại mới có được những tác phẩm để đời như các vở kịch: "Vũ Như Tô", "Cột đồng Mã Viện", "Bắc Sơn", "Những người ở lại", "Lũy hoa"; các tiểu thuyết: "Đêm hội Long Trì", "An Tư công chúa", "Sống mãi với Thủ đô" và nhiều tập truyện lịch sử dành cho thiếu nhi như "Kể chuyện Quang Trung", "An Dương Vương xây thành ốc", "Lá cờ thêu sáu chữ vàng"...

“Con đường văn sĩ” đầy trăn trở của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng -1
Ông Nguyễn Huy Thắng (bên trái) chia sẻ về cha trong buổi ra mắt cuốn “Con đường văn sĩ” của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng.

Cảm động trước "Con đường văn sĩ" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng, Tiến sĩ Đỗ Anh Vũ cho rằng: "Ở nhiều tác giả, việc viết tự truyện hay hồi ký thường được thực hiện khi tuổi đã xế chiều, vì thế có những sự mờ nhạt nhất định. Nhưng, ở cuốn nhật ký của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng luôn có sự tươi mới khi chúng ta biết được đây là những dòng văn ông viết rất chân thực hằng ngày. Nhờ đó, bạn đọc cũng có thể rút ra những chiêm nghiệm của riêng mình khi suy ngẫm, so sánh với những gì đã biết trong thực tế về lịch sử, về xã hội và về cuộc đời cũng như sự nghiệp sáng tác của nhà văn...".

Cũng qua nhật ký Nguyễn Huy Tưởng chúng ta biết được rằng ông bắt đầu tham gia truyền bá quốc ngữ từ giữa năm 1938, với những việc như phát sách, bút cho học trò, viết vào vở những chữ cái mẫu cho chúng tập tô và không quên ghi lại không khí của những ngày tháng đó dưới đôi mắt quan sát, ghi nhận của một nhà văn...

Ông cũng thường xuyên chia sẻ chuyện văn chương với bạn bè, từ ý tưởng một tác phẩm dự kiến đến việc nhờ bạn đọc tập bản thảo đã hoàn thành để cho ý kiến như trường hợp vở kịch đầu tay "Vũ Như Tô", đã được tác giả sửa chữa nhiều lần sau khi được một số bạn bè như Nguyễn Trọng Hoàn, Như Phong... cho ý kiến góp ý. Nhật ký ngày 15/3/1945, ông viết: "Gặp Nam Cao hôm 13. Mở cặp của Nguyễn Hữu Đang thấy có "Cột đồng Mã Viện" của mình. Nói, thôi còn cần gì nữa. Xếp bút nghiên thôi! Lòng bỗng ân hận, vì chưa thành một tác phẩm gì. Dẫu sao, cũng phải nhất định đi vào con đường văn sĩ. Khơi đào mãi mãi. Chính trị xong, nhất định trở lại văn chương. Rất nhiều hy vọng...".

Đó có lẽ là dấu ấn quyết định của Nguyễn Huy Tưởng và những người bạn văn của mình "xếp bút nghiên" lên đường theo cách mạng, đóng góp sức mình vào công cuộc giải phóng đất nước. Cuốn sách còn đồng thời là những nét phác họa chân thực một thế hệ nhà văn tiền chiến, những trang sử quý giá về các hoạt động cách mạng và phong trào yêu nước sôi nổi trước Cách mạng Tháng Tám của trí thức tiểu tư sản thành thị. Đó là những người bạn văn, những người đồng chí như nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi, nhạc sĩ Hoàng Quý; các nhà văn - nhà thơ như Tô Hoài, Nguyên Hồng, Trần Huyền Trân, Thâm Tâm, Nam Cao; nhà báo Nguyễn Hữu Đang...

Ông Nguyễn Huy Thắng - con trai nhà văn Nguyễn Huy Tưởng:

"Cha xa tôi từ khi tôi mới 5 tuổi và những ký ức về ông trong tôi rất mờ mịt. Nhờ những trang nhật ký của ông mà tôi hiểu thêm được nhiều điều về ông, từ tính cách, con người, những hoài bão, mong muốn cho đến tình yêu thương mà ông dành cho mấy mẹ con tôi và luôn cảm thấy được an ủi, thấy ấm lòng về điều đó. Tôi bắt đầu đọc các trang nhật ký của cha từ khi mới khoảng 9, 10 tuổi. Khi đó, mặc dù cuốn nhật ký có những trang mang nhiều nội dung riêng tư về đời sống vợ chồng của bố mẹ tôi, nhưng mẹ tôi vẫn để cho tôi đọc mà không ngăn cản. Trong nhật ký của cha tôi, trong khi ông ghi lại cuộc đời mình với quá trình trước tác, hoạt động xã hội thì đồng thời, cũng phản ánh chính những sự kiện, phong trào mà ông là người trong cuộc... Đối với cha tôi, dường như không có gì quan trọng hơn việc viết văn...".

Nguyệt Hà

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.