Còn âm vang mãi tiếng đàn bầu

Nguyễn Đình Phúc là người có tài năng phong phú và nổi trội. Nhưng ông có bản tính khiêm nhường, kín đáo, chỉ miệt mài làm việc, sinh thời hầu như rất ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông nên công chúng không mấy người biết rõ về thân thế, sự nghiệp...

“Lắng tai nghe đàn bầu/ Thánh thót trong đêm thâu/ Tiếng đàn bầu của ta/ Cung thanh là tiếng mẹ/ Cung trầm là giọng cha/Ngân nga em vẫn hát…”. Hẳn nhiều bạn đã nhận ra đó là những lời mở đầu bài hát “Tiếng đàn bầu” rất đỗi quen thuộc, không ai yêu âm nhạc lại không biết và nhiều người đã thuộc lòng từ lâu. Ca khúc được phổ từ thơ của Lữ Giang. Tác giả âm nhạc là Nguyễn Đình Phúc - một nhạc sỹ gạo cội không xa lạ với số đông công chúng. Đây là tác phẩm đã đưa tên tuổi ông lên hàng những nhạc sỹ có tầm cỡ nhất trong đội ngũ nhạc sỹ hiện đại Việt Nam. Và bài hát nói trên cũng là một trong những bài hay nhất về đề tài ca ngợi Tổ quốc, dân tộc.

Nguyễn Đình Phúc là người có tài năng phong phú và nổi trội. Nhưng ông có bản tính khiêm nhường, kín đáo, chỉ miệt mài làm việc, sinh thời hầu như rất ít xuất hiện trên các phương tiện truyền thông nên công chúng không mấy người biết rõ về thân thế, sự nghiệp.

Nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc.
Nhạc sỹ Nguyễn Đình Phúc.

Ông chẳng những là nhạc sỹ với nhiều tác phẩm nổi tiếng như bài hát vừa nhắc và các bài được ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh của dân tộc với bút danh Nguyễn Thơ đã có sức sống mãnh liệt như “Gửi anh đi đầu quân”, “Nhớ anh giải phóng quân”… mà còn là họa sỹ và nhà thơ. Từng học ở Trường Mỹ thuật Đông Dương ra, Nguyễn Đình Phúc nổi tiếng cả ở lĩnh vực hội họa với sở trường vẽ chân dung. Nhiều văn nghệ sỹ tên tuổi đã được ông vẽ.

Chân dung về Đại tướng Võ Nguyên Giáp được vị tướng lỗi lạc rất ưa thích và cảm tạ họa sỹ với những lời đầy cảm xúc và trân trọng. Giờ đây, khi Nguyễn Đình Phúc đã qua đời, nếu có dịp đến nhà bà quả phụ Trần Thị Bảo, ta sẽ có cảm giác như vào một bảo tàng mỹ thuật với nhiều bức tranh giá trị của ông được vẽ trong nhiều năm.

Tài năng về âm nhạc của Nguyễn Đình Phúc được phát lộ từ rất sớm. Ngay từ nhỏ ông đã chơi được nhiều nhạc cụ, cả dân tộc lẫn phương Tây. Đến năm 25 tuổi, ông phổ bài thơ “Cô lái đò” của Nguyễn Bính thành bài hát đã làm say đắm nhiều trái tim ngày ấy: “Xuân đã đem mong nhớ trở về/Lòng cô gái ở bến sông kia/ Cô hồi tưởng lại ba xuân trước/Trên bến cùng ai đã nặng thề…”. Người hát đầu tiên và hay nhất bài này là ca sỹ Thái Thanh. Bà đã khiến nhiều bậc mày râu tài ba phải thầm vụng ước ao mỗi khi nghe giọng hát. Sau này, ở vùng gọi là “tạm bị chiếm”, trong các chương trình biểu diễn của mình, hầu như ca sỹ nào cũng hát bài này bên cạnh những bài hát ta vẫn gọi là “tiền chiến” như “Giọt mưa thu”, “Con thuyền không bến” (Đặng Thế Phong), “Đêm đông” (Nguyễn Văn Thương), “Dư âm” (Nguyễn Văn Tý), “Thiên thai”, “Suối mơ”, “Trương Chi” (Văn Cao)…

Nhưng Nguyễn Đình Phúc tỏ ra chưa hài lòng về ca sỹ nào, kể cả Thái Thanh khi cho rằng họ đã hát bài của mình thành quá não nề, nỉ non, sướt mướt. Một lần tiếp xúc với nhạc sỹ, tôi được ông cho biết: “Mình đọc thơ của Nguyễn Bính thấy quá hay.

Thơ của ông diễn tả tình yêu lứa đôi, phần nhiều đều lỡ dở (như “Lỡ bước sang ngang”) nhưng không bi quan, yếm thế mà là nỗi buồn man mác chứ không quá bi lụy, ủ dột. Mình đã phổ bài “Cô lái đò” không với cảm xúc như vậy mà lành mạnh, thậm chỉ là khỏe khoắn. Nhưng không hiểu sao ca sỹ nào hát cũng làm cho bài hát trở nên thê lương, buồn nẫu ruột”. Ông nhắc đến một nam ca sỹ không còn trẻ có giọng hát vốn đã mỏng mảnh đã thể hiện bài này điển hình cho khuynh hướng “lâm ly hóa” nói trên.

Nghe “Cô lái đò”, “Lời du tử” (sáng tác trước Cách mạng Tháng 8/1945) rồi sau này là “Nhớ anh giải phóng quân”, “Gửi anh đi đầu quân”, đặc biệt là “Tiếng đàn bầu” của Nguyễn Đình Phúc, thấy giai điệu của ông rất “ướt át”, lãng mạn, tôi tò mò hỏi ông: “Chắc thế giới yêu đương của anh phong phú lắm?”. Ông “khai báo” rất chân thành: “Không. Ngược lại. Thế giới ấy của mình rất chân phương. Ai cũng nghĩ khi phổ nhạc bài thơ “Cô lái đò” mình phải có kỷ niệm nào với ai sâu sắc lắm.

Nhưng sự thật không phải mà chỉ là một lần mình đi dạo trên đê, nhìn dòng sông lững lờ trôi xuôi, tự nhiên mình thấy tâm hồn rất bâng khuâng, man mác. Đúng lúc đang mê, rung động thơ Nguyễn Bính, mình có sự đồng cảm cao rồi phổ được bài “Cô lái đò”. Rồi ông kể về cuộc tình dẫn đến hôn nhân của mình. Người con gái đầu tiên chàng trai Phúc quen biết là Trần Thị Bảo. Cô Bảo có người anh trai mở cửa hàng bán sách ở 110 phố Cầu Gỗ (Hà Nội).

Vốn mê đọc sách, chàng hay lui tới cửa hàng này tìm mua. Chỉ mua một, hai cuốn ít tiền cho có cớ để đọc nhờ là chính. Thấy người chủ quán có cô em gái khả ái, chàng để ý rồi hai người trở nên quen nhau. Quen biết, chuyện trò được một thời gian, bỗng một lần, Nguyễn Đình Phúc trao cho cô Bảo mảnh giấy có mấy chữ ngắn gọn: “Bảo có muốn làm vợ anh không?” rồi về thật nhanh, không chờ cô đọc. Mấy hôm sau, chàng trở lại thì thấy Bảo đỏ bừng mặt, có vẻ lúng túng, ngượng ngùng. Với sự nhạy cảm của mình, chàng nhạc sỹ trẻ hiểu rằng nàng đã ưng thuận, nhưng không thể nói lời đồng ý ngay.

Bà quả phụ Trần Thị Bảo trong căn phòng đầy ắp tranh của chồng.
Bà quả phụ Trần Thị Bảo trong căn phòng đầy ắp tranh của chồng.

Sau này, khi đã về chung sống, Trần Thị Bảo kể với Nguyễn Đình Phúc là lúc đọc lá thư, cô vô cùng xao xuyến, bồi hồi. Suốt đêm đó cô trằn trọc không ngủ, thổn thức mơ về chàng trai hào hoa phong nhã, rất hiền, điềm đạm, thật đáng yêu và nghĩ sẽ là vợ của anh. Vì lý do nào không nên duyên vợ chồng, ví như không được cha mẹ chấp thuận thì sẽ ở vậy, không lấy ai.

 Điều cô gái lường trước đã xảy ra. Nguyễn Đình Phúc không giấu gia cảnh của mình với người yêu: Nghèo, đông anh em, mẹ bán cá ở chợ Đồng Xuân nên tối tối phải đi kéo đàn cello ở các quán bar để có tiền phụ giúp mẹ nuôi các em. Điều này chẳng những không khiến Bảo coi thường mà càng cảm kích, nể phục người bạn trai của mình hơn. Lúc đầu, cô gái chưa muốn cho cha mẹ biết chuyện riêng của mình, nhưng không hiểu sao các cụ đã rõ.

Cha của Bảo là người cực kỳ nghiêm khắc và mang nặng tư tưởng phong kiến đã cầm sẵn con dao rồi gọi con gái lên “khảo” và đưa ra hai lựa chọn: Một là có thể lấy ai cũng được, không kể giàu nghèo, trừ Nguyễn Đình Phúc. Hai là nếu cố tình lấy chàng nhạc sỹ thì sẵn con dao, hãy đâm chết cha trước đã. Quá sợ cha và biết tính ông không dọa mà nói thật, Bảo đành phải hứa với cha là sẽ đoạn tình với người yêu. Nhưng đó chỉ là kế “hoãn binh” vì cô tự thấy tình cảm của mình là chính đáng và lại rất thương Nguyễn Đình Phúc.

Chỉ vì quá thành kiến với nghề đàn hát, cho Phúc là hạng “xướng ca vô loài”, tâm hồn lãng đãng phiêu diêu, ham vui, lãng mạn sẽ làm khổ con gái mình mà người cha của cô đã quyết “phá” bằng được. Thế là từ đó, cặp uyên ương đã buộc phải tạm thời rời xa, không thể công khai mà phải lén lút gặp gỡ và cũng chỉ thi thoảng vì sợ “lộ”. Họ đành chờ cơ hội khác, nhờ trời thương sẽ cho họ gặp lại, se duyên.

Rồi bẵng đi nhiều năm. Cả dân tộc cuốn vào cơn biến động long trời lở đất với cuộc Cách mạng Tháng 8 rồi sau đó là toàn quốc kháng chiến. Và cơ hội đã lại đến với hai người khi vào năm 1947, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang ở vào thời kỳ khó khăn của quân dân ta. Tại chiến khu Việt Bắc, họ tình cờ gặp lại nhau trong mừng tủi khôn xiết, nước mắt lưng tròng. Lúc này Nguyễn Đình Phúc khoác ba lô đi kháng chiến và Trần Thị Bảo cũng lên Việt Bắc tham gia dạy bình dân học vụ. Nhạc sỹ lại gửi cho người yêu mảnh giấy giống như mấy năm trước lúc mới quen nhau, cũng vẫn mấy chữ ngắn gọn nhưng khẳng định hơn: “Bảo phải là vợ anh”. Hai năm sau - 1949 - vào đúng ngày 19/8 lịch sử, kỷ niệm tròn 2 năm nổ ra cuộc cách mạng vĩ đại của dân tộc, khi Nguyễn Đình Phúc đã 30 tuổi và Trần Thị Bảo 25, họ làm lễ thành hôn tại Thái Nguyên. Đám cưới trong kháng chiến thanh đạm, cực kỳ giản tiện nhưng rất vui do hai nhà văn tên tuổi là Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Huy Tưởng làm đồng chủ hôn.

Vậy là cuộc hội ngộ rồi nên vợ chồng của hai người quá đẹp, được tất thảy mọi người chia vui. Những ngày tháng cực kỳ hạnh phúc này, Nguyễn Đình Phúc đã viết nên hai bản tráng ca đầy hào hùng, rừng rực khí thế chiến thắng của quân dân ta: “Chiến sỹ sông Lô”, “Bình ca”. Sinh thời, hai nghệ sỹ nổi tiếng Quý Dương và Quang Hưng đã hát rất hay hai bài hát này. Ta thấy ngoài chất trữ tình mềm mại, duyên dáng, Nguyễn Đình Phúc còn có thêm chất lửa, mạnh mẽ, sôi động trong các ca khúc của mình. Hai tính chất này đã làm nên phong cách đặc sắc trong các ca khúc của ông.

Nhạc sỹ, họa sỹ Nguyễn Đình Phúc qua đời năm 2001, để lại một khoảng trống lớn trong nền âm nhạc cách mạng của chúng ta.

Nguyễn Đình san

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.