Cố nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo: Một tượng đài thi ca

Ngày 12/6 mới đây, gia đình và bạn bè đã tổ chức lễ khánh thành khu tưởng niệm nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo tại quê ông ở Diễn Hoa, Diễn Châu, Nghệ An. Đã hơn 5 năm sau ngày nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo qua đời (7/1/2019) vì căn bệnh ung thư phổi, nhưng những bài thơ và ca khúc nổi tiếng của ông vẫn vang vọng trong tâm tưởng bạn bè và độc giả yêu mến ông.

Sau khi ông qua đời, gia đình, bạn bè đã hoàn thành bộ “Tuyển tập Nguyễn Trọng Tạo”, gồm 3 tập dày gần 2.000 trang in, giới thiệu 348 bài thơ, trường ca và 72 bài nhạc; 9 truyện ngắn và vừa; 13 tạp văn, 13 bài trả lời phỏng vấn và 86 bài viết về văn chương - cảm - luận, lý luận phê bình, chân dung, tự sự.

tượng đài nhà thơ nguyễn trọng tạo ở khu tưởng niệm.jpg -1

Tôi nhớ lại vào một buổi trưa tháng 12/2018, tôi vào thăm nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo ở phòng 1130 khoa Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai. Ông nhập viện đã hơn một tháng, không truyền hóa chất nữa mà đang xạ trị. Vừa gặp nhau, ông nói: “Em đấy à! Nhà thơ chúng mình còn được mấy người…”, mấy câu sau ông nói nhịu, tôi nghe không hiểu.

Ông trông khá mệt mỏi, người hơi mập ra, lúc nào cũng như buồn ngủ. Thi thoảng ông lại bừng tỉnh, ánh mắt nhìn bạn bè thân thiết lắm mà nói không ra lời. Tôi nắm tay ông và chia sẻ: “Anh cố vượt qua nhé, chỉ có niềm tin mới cứu rỗi chúng ta qua tháng ngày hoạn nạn thôi!”. Tôi chợt nhớ tới hai câu thơ cuối trong bài thơ “Đồng dao cho người lớn” của ông: “Có thương có nhớ có khóc có cười/có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi”.

Thơ gần với sẻ chia hơn là răn người!

Trong đời thơ mình, Nguyễn Trọng Tạo tự nhận mình là kẻ ham chơi và ông lãng du miên man trên khắp các vùng đất. Nhưng ông cũng là một người làm nghề nghiêm túc. Suy nghĩ về nghề văn, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo viết: “Thơ gần với nước mắt hơn là tiếng cười, gần với khổ đau hơn là reo hát, gần với sẻ chia hơn là chiếm đoạt, gần với chiến thắng mình hơn là răn người… Hay nói như G.Lorca: “Thơ gần với máu hơn là mực”. Mấy suy ngẫm này của ông có lẽ đã chạm tới được cái phần cốt lõi tinh thần của thi ca, cái mà thi sĩ bao đời đã phải “lao tâm khổ tứ” tìm cho mình con đường đi qua vô tận mênh mông bể chữ để vượt lên những khổ đau, trăn trở, khao khát của một kiếp người.

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo sinh năm 1947, quê ở Diễn Châu, Nghệ An, tham gia quân đội năm 1969, học Trường Viết văn Nguyễn Du khóa 1, đã in 10 tập thơ với 6 giải thưởng văn học; có thơ dịch sang các tiếng Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Ba Lan. Những thập niên qua, ông nổi danh với tư cách nhà thơ đồng thời nhạc sĩ. Nhạc phẩm “Làng quan họ quê tôi” của ông từng được Dàn nhạc Giao hưởng Leipzig trình tấu trong tuần văn hóa Việt - Đức.

Là nhà thơ, họa sĩ, nhà báo, Nguyễn Trọng Tạo từng là Trưởng ban biên tập Báo Thơ thuộc Báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 2003 đến 2004. Ông là tác giả các ca khúc đậm chất dân gian như: “Làng quan họ quê tôi”, “Khúc hát sông quê”, “Đôi mắt đò ngang”, “Tình ca bên một dòng sông”, “Non nước Cao Bằng”, “Mẹ tôi”... Ông cũng viết nhiều tập thơ, trường ca như: “Đồng dao cho người lớn”, “Nương than”, “Thế giới không còn trăng”, “Con đường của những vì sao”, “Trường ca Đồng Lộc”, “Tập thơ song ngữ (Việt - Anh)”, “Ký ức mắt đen”, “Trường ca Biển mặn”…

Tài hoa trong thi ca, lãng du trong âm nhạc

Tôi cảm thấy, hình như trong nhiều bài thơ Nguyễn Trọng Tạo, cái chất đồng dao đã đẩy thơ ông đến gần hơn với âm nhạc và làm bừng dậy một chất nhạc mới trong thơ. Điều này có thể thấy rõ ở bài thơ “Đồng dao cho người lớn” với những câu thơ sau: “Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi/ có con người sống mà như qua đời/ có câu trả lời biến thành câu hỏi/ có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới/ có cha có mẹ có trẻ mồ côi/ có ông trăng tròn nào phải mâm xôi/ có cả đất trời mà không nhà ở/ có vui nho nhỏ có buồn mênh mông/ mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió/ có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi”. Cái nhịp điệu đồng dao trong bài thơ này tuy có lúc đã bắt nhà thơ phải gieo chữ, nhả vần một cách có khuôn khổ, gò bó nhưng âm điệu phóng túng của đồng dao lại cuốn ông ào ạt đi qua những ngữ cảnh thơ khá sinh động và giàu chất âm nhạc.

ngày 12-6 khánh thành khu tưởng niệm.jpg -0
Ngày 12/6 vừa qua, tại quê nhà của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo đã diễn ra Lễ khánh thành Khu tưởng niệm nhà thơ.

Theo tôi, sự ngạo nghễ và phóng túng trong thi ca đôi khi lại là dấu hiệu của một phẩm chất cá biệt của tài năng, bởi thi tài không mấy khi chịu khép bóng mình trong những khuôn thức cũ kỹ. Trước hết, Nguyễn Trọng Tạo không phải là một người ham phá cách trong thơ nhưng ông luôn có ý thức làm mới thơ ngay ở cả trong những khúc thức cổ điển của các thể thơ năm chữ, bảy chữ và lục bát. Và, bài thơ “Chia” sau đây của ông là một dẫn chứng: “Chia cho em một đời tôi/ một cay đắng một niềm vui một buồn/ tôi còn cái xác không hồn/ cái chai không rượu tôi còn vỏ chai/ chia cho em một đời say/ một cây si với một cây bồ đề/ tôi còn đâu nữa đam mê/ trời chang chang nắng tôi về héo khô/ chia cho em một đời thơ/ một lênh đênh một dại khờ một tôi/ chỉ còn cỏ mọc bên trời/ một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm”.

Ẩn giấu sau những câu thơ tài hoa nói trên là cả một sự ngạo nghễ đầy thi vị đấy chứ! Nhà thơ đã cố cãi rằng, ngay cả khi anh ta chỉ là một cái xác không hồn (vì đã quá yêu em?) thì anh ta cũng rất còn “hay ho” giống như một cái chai đã hết rượu (vẫn còn vỏ chai) đang chờ đợi được rót đầy bởi một thứ rượu lãng mạn say đắm khác của tình yêu muôn thuở. Nhưng, không chỉ có tình yêu, bài thơ trên còn chia sẻ một nỗi niềm cay đắng, xa xót của người thơ khi đã vắt kiệt mình cho thi ca và tình yêu, khi cuộc đời khép lại trong hình ảnh một bông hoa nhỏ nhoi vừa rơi đâu đó trong những nẻo mưa đêm mờ mịt.

“Chia” là một bài thơ lục bát tinh tế và hàm súc bởi cái chất “thi tại ngôn ngoại”. Nói về tửu lượng thì Nguyễn Trọng Tạo là một thi sĩ vô địch về khoản này. Ông có thể ngồi uống suốt ngày, thậm chí uống cả đêm. Và, khi rượu say, ông nói chuyện càng trở nên có duyên hơn cả khi tỉnh táo. Lúc ấy, với phẩm chất tài hoa của một thi sĩ “coi đời không là cái đinh gì”, ông thường đọc thơ với giọng cao ngạo lạ thường mà người nghe vẫn thấy thú vị.

Bảo thơ Nguyễn Trọng Tạo cũ ư? Có lẽ, ông sẽ cười ý nhị mà nói rằng: “Cứ hãy cũ đến mức trở thành cổ điển đi để được thấy mỗi ngày đang sống cũng chẳng có gì mới hơn những ngày đã sống qua đâu?”. Bảo thơ Nguyễn Trọng Tạo đang bừng dậy một chất nhạc mới trong thơ ư? Có lẽ, ông cũng sẽ cười ý nhị mà cho rằng: “Cái mới tự thân đã xuất hiện một cách thầm lặng trong mỗi câu thơ hay - theo cách nói của nhà thơ Trần Dần: Người trồng hoa không vẩy nước hoa cho hoa”.

Trong số những nhà thơ đi qua chiến tranh, cho đến những ngày cuối đời, Nguyễn Trọng Tạo vẫn viết đều đặn và vẫn đang tự làm mới thơ mình theo cái cách của ông, vẫn trữ tình, tài hoa đến ngạo nghễ, vẫn mướt mải vắt kiệt mình cho yêu thương và không ít khi, ông bỗng trầm hẳn xuống với những tâm sự khá day dứt như trong bài thơ “Nhà văn”: “Thật may, anh là người chưa nhũn não/ ngày lại ngày tự múc óc nuôi mình/ ộc ra con chữ/ ộc ra tâm can kiến tạo sinh thành/ Người đời gọi anh là nhà văn/ anh vẫn gọi anh là bác thợ cày/ cày trên giấy trắng /những luống chữ đen đen/ Anh là chiếc hộp đen tích đầy sự sống/ lại ghép những mảnh đời thành nhân vật bước ra/ chân thiện mỹ thấp hèn hay độc ác/ chẳng là ta mà sao vẫn là ta?/ Một thế giới riêng nhà văn mang tới/ cho ta yêu cho ta giận cho ta thương…”.

Ta gặp khá nhiều những bài như thế trong tập thơ “Ký ức mắt đen” của Nguyễn Trọng Tạo, như một sự lắng lại sau bao nhiêu trăn trở, vật vã với thi ca để tự làm mới mình sau mỗi chặng đường thơ. Điều không ai ngờ, trong bài thơ “Nhà văn” nói trên, dường như Nguyễn Trọng Tạo đã dự báo trước sự ra đi của mình khi chỉ ít năm sau đó, căn bệnh ung thư quái ác đã di căn lên não nhà thơ trong những ngày cuối cùng ông phải chiến đấu quyết liệt với tử thần, với số phận trên giường bệnh.

Trong một ngày buồn, khi cùng các bạn văn tiễn đưa nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo về nơi yên nghỉ cuối cùng, tôi đã viết bài thơ dưới đây như một nén tâm hương tưởng nhớ ông: “Giọt cuối cùng anh khóc/ Lúc tiễn bạn ra về/ Nay bạn bè đến khóc/ Tiễn anh ngày ra đi/ Anh như còn lắng nghe/ Tiếng mưa rơi lần cuối/ Lần cuối khúc sông quê/ Trong hồn anh mát rượi/ Anh như còn bên ta/ Suốt mùa thơ trăn trở/ Những con chữ xót xa/ Với chúng sinh nghèo khó/ Tiễn anh trong mưa lạnh/ Còn tháng nữa Tết rồi/ Rượu với thơ buồn bã/ Tiễn người về xa xôi/ Giờ anh về yên ngủ/ Bên dòng sông quê nhà/ Nhạc anh còn chan chứa/ Ru đôi bờ phù sa/ Như đứa con của mẹ/ Trở về dưới mái nhà/ Quê hương là hơi thở/ Ngàn đời chở che ta”.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.