Cố nhà thơ Chu Hoạch: "Chắp tay xin bái biệt làng... Tôi đi"

Cố nhà thơ, họa sĩ Chu Hoạch sinh năm 1941, quê ở thôn Thượng Thụy, xã Đức Thượng, Hoài Đức, Hà Nội. Ông làm thơ từ đầu thập niên 60 của thế kỷ trước và nổi tiếng là một thi sĩ - họa sĩ tài hoa. Ông đã in 2 tập thơ và được trao nhiều giải thưởng thơ của Báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Hà Nội, Báo Người Hà Nội, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam và Hội Liên hiệp VHNT Hà Nội. 

Thời bao cấp khó khăn, Chu Hoạch được bạn văn liệt vào nhóm "những nhà thơ chân đất" như: Tường Vân, Lê Huy Quang... thường làm thơ và "xuất bản miệng" trong các quán rượu Hà thành.

Tôi có một kỷ niệm thật khó quên về nhà thơ - họa sĩ Chu Hoạch. Trong cuộc thi thơ của tuần báo Văn nghệ năm 1989-1990, tôi với ông đều có thơ in và đều được trao giải của cuộc thi này. Những năm ấy, đời sống thi ca đất nước bước vào giai đoạn đổi mới có rất nhiều chuyển biến và sôi động.

Những bài thơ khó in trước đây nay được dịp xuất hiện và công bố. Những bài thơ tưởng chỉ dám đọc cho nhau nghe bên các quán rượu chui nay lại thơm mùi mực in trên các trang báo. Một buổi trưa đầu tháng 1/1991, chúng tôi ngồi đàm đạo với nhau bên mấy cốc bia ở đầu phố Phan Chu Trinh. Chu Hoạch nói: "Theo tin rò rỉ, thơ của anh và chú đều được trao giải cao của cuộc thi thơ này".

Chân dung nhà thơ - họa sĩ Chu Hoạch.
Chân dung nhà thơ - họa sĩ Chu Hoạch.

Bữa ấy, hết bia rồi rượu, bạn bè chúc mừng Chu Hoạch và tôi. Gương mặt trầm buồn như giãn ra, Chu Hoạch đọc cho chúng tôi nghe bài thơ "Một ngày" viết hồi ông còn phải đi nạo vét cống ngầm để mưu sinh:

Đưa Em ra bến xong anh vòng về quán nước
Ở đấy - với năm xu - anh được thở dài
Mà ngắm những đốm Hè nồng nực
Nhấp nháy hiện màu nhấp nháy đổi thay
Ngồi hết cái năm xu cũng là kịp vào ngày lao động
Với một chiếc xô tay anh tụt xuống cống ngầm
Thành phố đi trên đầu anh không tiếng vọng
Trừ tiếng thở của mình trầm, chậm, có hồi âm…
Ở đầu cống đằng kia cách hai trăm thước
Người thợ cống lâu năm rủ anh vào cuộc chuyện trò
Và trong cõi âm u nửa bùn nửa nước
Mỗi tiếng thì thầm cũng trở nên to
Cả hai đã nói gì trong âm u bùn nước ấy?
Khi thì nói về những cô gái đến với đời mình để lại ra đi…

Khi thì nói về khẩu súng, về con dao, về hòn đá đợi chồng, về lòng con sông chảy Về những mùi vị bất ngờ được nếm ở trong mơ khi thức dậy chẳng còn gì…

Nhưng nhiều nhất là nói về những người đi trên phố
Những người đi ô tô những người đi bộ ngược chiều nhau
Những người vội vàng những người hớn hở
Và những người đi im lặng cúi đầu...

Câu cuối của bài thơ sau này được Chu Hoạch sửa thành "Và những người đi im lặng lẫn màu…". Có lẽ Chu Hoạch là nhà thơ duy nhất ở nước ta viết được một bài thơ độc đáo về "đời sống cống ngầm" những năm tháng ấy. Con mắt thi sĩ của ông đã phát hiện, đã khắc họa "trong cái cõi âm u nửa bùn nửa nước ấy" câu chuyện của quá khứ và tương lai của con người thời đương đại được nhìn từ dưới cống ngầm. Bài thơ giản dị, khúc chiết và đầy ắp "ý tại ngôn ngoại". 

Đây là một trong những bài thơ hay nhất của Giải thơ Báo Văn nghệ những năm đổi mới. Chu Hoạch còn nhiều bài thơ đặc sắc khác như: "Quê", "Tĩnh vật", "Gió đầu ô"… đã làm nên gương mặt thơ đặc sắc của ông.

Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc là người bạn thân chí cốt, từng giữ nhiều sổ tay thơ của Chu Hoạch, may là còn giữ được một số cuốn, vì có thời gian, gặp bi kịch tình yêu, Chu Hoạch từng đốt hết thơ của mình. Đến khi Đặng Hữu Phúc mang trả lại ông mấy cuốn sổ tay thơ còn giữ lại, Chu Hoạch mới nhớ ra mình đã từng viết những bài thơ ấy.

Một đệ tử khác của Chu Hoạch là họa sĩ Phan Vũ Khánh, người từng "cắp tráp" theo ông lang thang đi vẽ suốt mấy chục năm ở Hà - Nội - Phố cho biết, thầy trò họa sĩ những năm đói kém ấy, suốt ngày chỉ xơi mỳ ăn liền và rượu suông nhưng vẫn cháy bỏng tình yêu hội họa và thi ca.

Tâm sự với tôi, nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc ân hận: "Do yêu mến bạn quá nên thỉnh thoảng tôi lại đem thuốc lá và rượu trắng đến cho Chu Hoạch, nhưng không ngờ rằng mình đang làm bạn mòn mỏi, héo rũ vì nicotin và cồn. 

Những năm cuối đời, Chu Hoạch sống một mình, suốt ngày chỉ có rượu, thơ và vẽ. Anh đốt cháy mình cho nghệ thuật tới phút tận cùng. Có đêm thức dậy, khát quá, Chu Hoạch phải uống rượu thay nước vì bình thủy đã cạn sạch. Thế thì gan, ruột thi sĩ làm sao mà không bị hủy hoại, hở ông!".

Ông Phúc kể lại cho tôi nghe bữa rượu định mệnh cuối cùng trong đời Chu Hoạch. Hôm ấy, họa sĩ Hoàng Hồng Cẩm và mấy người bạn uống rượu mừng Chu Hoạch về một bài báo vừa mới đăng "Chu Hoạch một thân, một phận như tôi biết" của tác giả Nguyễn Viết Bình. 

Mấy ngày trước đó, Chu Hoạch nói gở: "Không khéo, tôi sắp "đi" các ông ạ, vì tôi được cái lộc lớn quá, trước nay chưa bao giờ thấy. Như được mách bảo, một người đã tìm đến nơi tôi ở trọ, mua sạch mấy bức chân dung sơn dầu và ký họa, trả tôi khoản tiền đủ trả nợ mấy tháng tiền thuê trọ của tôi".

Hôm ấy, mấy người bạn cùng với Chu Hoạch uống rượu và nhâm nhi bài báo rất hay nói trên. Có ngờ đâu đấy là bài "văn điếu" mà Chu Hoạch được đọc cuối đời mình. Đêm hôm ấy, độc thân một mình tại nhà trọ, Chu Hoạch bị ngã từ trên giường, dập đầu xuống đất, không ai biết. Hôm sau, linh tính mách bảo thế nào, con trai ông xuống nhà, thấy bố nằm bất tỉnh dưới nền, vội cùng họa sĩ Phan Vũ Khánh, nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc đưa ông tới bệnh viện cấp cứu, một tuần sau, Chu Hoạch qua đời…

Mới đây, trong đêm nhạc "Hà Nội, em và thu chớm đông sang" của nhạc sĩ Phú Quang tại Hà Nội, khi giao lưu với khán giả, Phú Quang đã bật khóc khi nhắc về cố họa sĩ - nhà thơ Chu Hoạch mà ông đã phổ thơ. Cuộc đời thi sĩ lãng tử và nghèo khó của Chu Hoạch gắn bó với nhiều văn nghệ sĩ và một số bài thơ của ông đã được các nhạc sĩ đương đại nổi tiếng phổ nhạc như: Đặng Hữu Phúc, Phú Quang, Phó Đức Phương, Nguyễn Cường, Ngọc Đại…

Trong đêm nhạc xúc động ấy, nhạc sĩ Phú Quang trải lòng với khán giả: "Tôi có một ông bạn họa sĩ yêu thơ. Ông này có cuộc sống rất khổ. Khi gia đình khó khăn cũng là lúc vợ ông sang nước ngoài kiếm sống.

Trong tình cảnh thơ và tranh không bán được, ở nhà, ông họa sĩ có khi phải đi kéo xe để nuôi con. Nhưng vì dáng quá gầy gò nên rồi không ai thuê ông ta nữa. Ông họa sĩ đành phải xin làm công nhân móc cống để mưu sinh. Cuối cùng chờ đợi bao nhiêu năm vợ ông cũng về nước. Ông rất mừng nhưng khi gặp lại được người vợ thì cũng là lúc người đàn bà đó đòi chia tay.

Cái nghèo, cái khó cứ thế đẩy hai người yêu nhau ra xa dần, thành thử sợi dây níu kéo cuối cùng chỉ còn là tình nghĩa. Rốt cuộc, người đàn ông tự trọng ấy đã chọn cách "ra đi gọn nhẹ" để không làm người phụ nữ của mình phải khó xử thêm nữa, và cũng là cách giải thoát cho mình. Sau lúc buồn bã nhất, năm 1979 Chu Hoạch đã viết bài thơ Thu và khi đọc thấy xúc động nên tôi đã phổ nhạc".

Nguyên văn bài thơ Thu của Chu Hoạch như sau: Thu rất thật thu là cái lúc chớm Đông sang/ Em rất thật Em là lúc Em hoang mang lựa chọn/ Anh rất thật anh là sớm biết ra đi nhẹ gọn/ Để tránh cho Em bớt một lời chào/ Và/ Bớt cho đời một chút gió xôn xao…". 

Bài hát chính của đêm nhạc "Hà Nội, em và thu chớm đông sang" được chính nhạc sĩ Phú Quang thể hiện. Câu chuyện xúc động về hoàn cảnh ra đời ca khúc này không chỉ khiến tác giả rơi nước mắt mà còn khiến nhiều khán giả chạnh lòng về cuộc sống bất hạnh của một họa sĩ nghèo.

Ôn lại những kỷ niệm về họa sĩ Chu Hoạch, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cho biết: "Chu Hoạch trước khi thành họa sĩ, anh đi bộ đội, trở về làm công nhân công trình đô thị chuyên đi vét cống ngầm dọc phố phường Hà Nội ban đêm. Ngày vẽ và làm thơ.

Mười năm cuối đời, anh ở trọ quanh khu Kim Liên, Phương Mai. Tôi mấy lần đến xem anh vẽ, vừa uống rượu, vừa vẽ. Nhiều tranh vẽ thiếu nữ rất đẹp. Có lẽ vì thế mà nhiều "người mẫu" cũng đem lòng yêu anh. Và cũng vì thế mà anh viết nhiều thơ tình. Gần đây, tôi gặp lại một "người mẫu" của anh, một người đẹp Hà thành mà bạn bè vẫn gọi là "Phương tóc vàng".

Phương đọc thuộc những bài thơ khoảng 30 năm trước Chu Hoạch tặng cô. Có những bài thật dễ nhớ: "Có một nấm mồ không đáy: - thời gian/ Có một nỗi buồn không tan trong thời gian không đáy/ Đó là nỗi buồn của chiếc giày chân trái/ Không tìm thấy chiếc giày chân phải để thành đôi".

Nhiều người đã chép tay các bài thơ của anh như "Cống", "Quê" và "Gió đầu ô", những bài thơ khiến người ta gọi Chu Hoạch là "thi sĩ cống" hoặc "thi sĩ quê". Gần cuối đời, anh nổi hứng dự thi thơ trên Báo Người Hà Nội và được tặng giải, rồi thơ anh cũng được in thành tập. Anh lặng lẽ ra đi vào ngày 4/10/2007 theo cách riêng như thơ anh báo trước: "Ngày hôm nay, tôi nhắc đến chữ chết nhiều/ Chết đâu phải là điều cần tránh/ Chết đó là phần chia tư chiếc bánh/ Mỗi đời người nên biết cách ăn...".

Nhà thơ - họa sĩ Chu Hoạch ra đi đã chục năm, thơ in hai tập với mấy giải thưởng lớn mà không đủ tiền uống rượu, tranh thất lạc nhiều phương với nhiều người tình say đắm, nhưng còn lại vô số thơ hay như đoạn thơ sau:

Quê là có đấy mà không
Đi không ai tiễn về không kẻ chờ…
Lên chùa gặp sãi ngẩn ngơ
Hỏi thăm giếng cũ vườn xưa… sãi cười
Xa quê từ thuở đầu đời
Mất quê chót chặng cuối đời lang thang
Lòng thành thơm một nén nhang
Chắp tay xin bái biệt làng…Tôi đi. 

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.