Có một “vườn thơ” như thế

Làng Đông Bích, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An là một làng quê có truyền thống hiếu học và văn chương. Chỉ một làng nhỏ thôi nhưng có đến ba nhà thơ thuộc Hội Nhà văn Việt Nam; ba nhà thơ thuộc Hội Văn học nghệ thuật tỉnh nhà. Đấy là một điều không dễ và đã trở thành niềm tự hào cho người Đông Bích nói riêng và người Đô Lương nói chung.

xVương Trọng là đứa con của làng, sinh ra trong một gia đình đông anh em, từng trải qua thời kỳ cơ cực tuổi thơ. Ông nổi tiếng là người thông minh, đặc biệt ông có trí nhớ hơn người. Ông học giỏi môn toán, yêu văn chương và luôn trăn trở cuộc sống của những người bất hạnh và thể hiện điều đó trong thơ.

Những tác phẩm thành công nhất của ông thường chứa nặng tình thương, như “Bên mộ cụ Nguyễn Du”, “Với đứa con ngoài giá thú”, “Khóc giữa chiêm bao”, “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc”,... Thơ của ông nổi bật là lòng thương người và sự đồng cảm, sẻ chia sâu sắc. Vương Trọng từng chia sẻ rất thấm thía về thơ rằng: “Tôi yêu Đỗ Phủ hơn Lý Bạch, yêu Nguyễn Du hơn Hồ Xuân Hương; bởi Đỗ Phủ, Nguyễn Du ngoài tài thơ ra còn có trái tim lớn, đau nỗi đau những cuộc đời bất hạnh. Thơ sinh ra không phải cho người đời chơi chữ, mà cốt để chuyển tải nỗi lòng. Bài thơ hay nhiều khi không còn thấy thơ đâu mà chỉ thấy cuộc đời, tâm trạng và số phận...”.

Có một “vườn thơ” như thế -1
Nhà thơ Vương Trọng.

Với quan niệm về thơ như thế, các tác phẩm của ông thường chạm đến trái tim của độc giả để họ cùng thổn thức. Tiếng thơ cũng chính là tiếng lòng ông muốn gửi gắm đến bạn đọc.

Quê hương là một đề tài lớn trong sáng tác của ông. Ông tự nhận mình là gã nhà quê ở phố, hồn ở quê: “Tôi đây đích thực nhà quê/ Ai khen cứ việc, ai chê xin mời”. Ông giới thiệu làng mình: “Làng tôi nhỏ, lối vào làng cũng nhỏ/ Ô tô về phải đậu lại đường quan”. Và, bạn bè của mình thì: “Những bàn tay lam nham cua cắp/ Những bàn chân tập tễnh bước gai đâm...”.

Bài thơ “Lời dặn” được xem như “bản di chúc” của ông được viết năm 1989, cách nay đã trên một phần ba thế kỷ. Ông ước khi từ giã cõi đời thì về an nghỉ ở quê hương, bởi:

Núi Quỳ Sơn sẵn dành chỗ tôi nằm
Hoa ấm lửa đất nồng hơi than cháy.

Cách đây 3 năm, ông về quê dài ngày để tự chọn mảnh đất cho mình khi trăm tuổi.

Nơi ông chọn là mảnh đất ngay chân núi, mặt nhìn ra đồng lúa, phía sau là cả dãy núi Quỳ Sơn dang tay nâng đỡ và vỗ về, phía bên phải là suối nước rì rầm quanh năm... Trong khu đất ấy, ông tự thiết kế cho mình các khu vực rõ ràng, hợp lý. Phía trên cùng là hai chỗ nằm cho ông và bà khi trăm tuổi; trung tâm của khu đất là bia đá dựng có khắc bài thơ “Lời dặn” và bài “Nghĩ về thơ”. Điểm đặc biệt nhất của mảnh vườn này đó chính là những bài thơ được in rất đẹp đẽ, được trang trí giống như những trang sách ngay ngắn, phẳng phiu rất ấn tượng ngay trên tường vôi bao quanh. Vườn thơ có tất cả 15 bài thơ, bia chính có hai bài: “Lời dặn” và “Nghĩ về thơ”, phần còn lại chia ra làm hai nửa, nửa nhiều hơn viết về quê hương như “Núi Quỳ”, “Làng trong chiêm bao”,… nửa viết về vùng đất khác như “Nhà Rông”, “Trăng Ghềnh Ráng”...

Ông đã đi qua nhiều nơi, sinh sống và làm việc ở Thủ đô bao nhiêu năm nhưng quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn vẫn có sức lay gọi ông tìm về, lòng ông luôn đau đáu chốn quê nhà. Ở đó có núi Quỳ, nơi tuổi thơ ông gắn bó với bạn bè, với nhiều kỷ niệm không bao giờ cũ. Nghĩ về núi Quỳ, bao suy tư cứ dội về trong ông từ cái nắng, vách đá, tiếng gọi của trẻ chăn trâu đến nỗi nhớ của trai làng khi rời quê vào chiến trận để ngày trở về vẫn thương nhớ rưng rưng:

Nắng hè dội lửa vào khe đá
Khe đá bức xạ từng chùm hoa
                                                mẫu đơn
Trẻ trâu gọi nhau dội vào vách đá
Tiếng hồi âm vang đến tận làng.

                                     (Núi Quỳ)

Núi Quỳ là một trong những điểm nhấn của làng quê Đông Bích của ông. Núi Quỳ thật nhiều đá, đá sắc nhọn, dựng đứng, vách đá kiên cường như con người quê ông. Núi Quỳ và làng quê Đông Bích có mối quan hệ khăng khít, bền chặt, người dân quê bao đời vẫn hướng núi mà nhìn, hướng núi tìm về khi thành người thiên cổ. Núi và người gắn bó trăm năm. Núi cũng như làng, chứng kiến bao thăng trầm dâu bể, cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc đã gọi biết bao trai làng tòng quân, cứu nước. Núi Quỳ trở thành một phần trong kí ức, nỗi nhớ của người làng khi đi xa và cũng là nơi họ khao khát tìm về.

Ngôi làng Đông Bích nhỏ xinh với những mái nhà cỏ gianh đơn sơ, những khu vườn rậm rạp gọi bao loài chim tìm về lanh lảnh tiếng hót, con đường nhỏ quen thuộc với hai dãy cau bên bờ, cỏ tràn cả lối đi, cây đa ba chánh chín chồi ngàn tuổi luôn níu bước chân người đi xa, đã ghim vào trái tim, trí nhớ của thi nhân trở thành mạch nguồn của sự sống, sự sáng tạo.

Về quê hồn thảng thốt
Làng xưa giờ nơi nao?

                            (Làng trong chiêm bao)

Với ông, người mẹ có một vai trò đặc biệt. Phải chăng, vì tuổi thơ khốn khó, cha mất sớm, anh em lớn lên trong tình yêu thương và sự chăm lo giáo dục của mẹ mà bà trở thành một “tượng đài” trong trái tim ông. Bài thơ “Khóc giữa chiêm bao” đã khiến bao độc giả rưng rưng, thổn thức với cảm xúc chân thành mà thống thiết của nhà thơ. Đó là giấc mơ gặp mẹ khi người đã thành người thiên cổ, khoảnh khắc gặp bà là những năm tháng tuổi thơ của anh em nheo nhóc, cơ hàn để rồi giấc mơ qua, giọt nước mắt vẫn dầm dề và khát khao gặp lại dù “thêm lần con khóc giữa chiêm bao”:

...Chiêm bao tan, nước mắt dầm dề
Con gọi mẹ một lần trong đêm vắng.

                                   (Khóc giữa chiêm bao)

Quê hương là mẹ, mẹ là quê hương. Dù lập nghiệp, sinh sống xa quê nhưng ông luôn hướng về quê hương với một tình yêu cội rễ. Mỗi lần đi đâu thấy loài cây lạ là ông lại tìm cách đưa về trồng trên đất quê. Ông từng mang cây gạo lấy từ Hà Giang, cây bồ đề ở Hà Nội về trồng ở miếu Đông Sơn, vườn nhà thờ họ. Hiểu được tình yêu mà người mang giống cây gửi gắm, cây tốt tươi để đền đáp ơn người. Đến nay, dù đã ngoài bát thập, ông vẫn một lòng hướng về quê hương, nguồn cội. Việc họ, việc làng ông đều quan tâm và có những đóng góp lớn cả về tinh thần lẫn vật chất. Ông là con người của làng quê, trọn một đời luôn đau đáu với quê nhà.

Có một “vườn thơ” như thế -0
Vườn thơ của nhà thơ Vương Trọng.

Đến với vườn thơ của ông, chúng ta cũng sẽ biết thêm về những nơi khác ngoài làng quê Đông Bích. Ta sẽ thấy được một nhà Rông ngay dưới chân núi Quỳ:

Nhìn dọc: dựng mũi tên
Nhìn ngang: xóc lưỡi búa
Bước lên hóa con thuyền
Sóng rượu cần nghiêng ngửa.

                                       (Nhà Rông)

Đã có nhiều nhà thơ viết về nhà Rông, nhưng nhà Rông của Vương Trọng với những nét khắc họa, thật khó quên. Thơ ông đã đưa một nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Tây Nguyên về sát với làng mình.

Vườn thơ còn đưa ta về với “Trăng Ghềnh Ráng” về với một địa điểm du lịch vùng đất Quy Nhơn và nhớ về nhà thơ tài năng mà đoản mệnh Hàn Mặc Tử. Tiếng thơ hay tiếng lòng tác giả đang thổn thức trước cảnh đẹp và chuyện thi nhân:

Vầng trăng xưa người bán ở Quy Hòa
………………………………….
Ta nhìn trăng cứ sợ trăng rơi.   
  

                                     (Trăng Ghềnh Ráng)

Trong vườn thơ của ông không chỉ có hình ảnh của quê hương xứ sở mà còn có cả những địa danh, vùng đất khác với những cuộc đời và số phận khác nữa. Chúng ta bắt gặp bài thơ “Nguyễn Du” trong vườn thơ đa sắc ấy. Ông yêu Nguyễn Du không chỉ bởi tài thơ trác tuyệt mà bởi vì tấm lòng luôn trăn trở đau nỗi đau của những số phận bất hạnh trong cuộc đời:

Tóc bạc cảm thương người phận mỏng
Lưng gầy trĩu nặng nỗi bể dâu.

Không có trái tim yêu thương, không có sự đồng cảm, sẻ chia chắc chắn không có được những vần thơ cảm động đến thế.

Một vườn thơ nho nhỏ dưới chân núi Quỳ, xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An của nhà thơ Vương Trọng cũng giúp ta hiểu hơn về ông: một người con luôn hướng về quê hương gốc rễ với tình yêu thương âm ỉ và mãnh liệt, một nhà thơ luôn trăn trở với nghệ thuật và cuộc đời, một người nghệ sĩ in dấu chân mình qua nhiều vùng đất, hiểu nhiều con người trong cõi nhân sinh và sáng tạo nghệ thuật. Về bên vườn thơ của ông, ta nghe rõ cả tiếng lòng ông cùng con tim bâng khuâng, xao xuyến. Về với vườn thơ ông, ta nghe lòng mình dịu lại, chan hòa cùng cỏ cây, lắng nghe tiếng suối chảy, tiếng lá thông vi vu, mùi hương ngào ngạt. Và, ta nghe thấy tiếng lòng mình nhẹ bẫng, thanh cao!

Tháng 7/2024

Vương Thư

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...