Cố họa sĩ Thang Trần Phềnh: Tài hoa và độc đáo

Vừa qua, tại nhà triển lãm Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (42 Yết Kiêu - Hà Nội) đã diễn ra triển lãm bộ sưu tập các tác phẩm của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh (1895-1972) của nhà sưu tập Lê Quang Tuyến và ra mắt cuốn sách “Thang Trần Phềnh - Hồi ký và tác phẩm”.

Nổi danh từ khi chưa vào học tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Thang Trần Phềnh được xem là một trong những viên gạch đầu tiên tạo nền móng cho “ngôi nhà mỹ thuật Việt Nam” cận đại. Đồng thời, ông cũng đóng vai trò là “người khai mở” và có đóng góp lớn cho mỹ thuật sân khấu Việt Nam.

Triển lãm các tác phẩm của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh đã trưng bày trên 70 bức vẽ gồm các thể loại: tranh tả cảnh sinh hoạt, tranh phong cảnh, ký họa, phác thảo trang phục nhân vật sân khấu, trang trí bối cảnh vở diễn bằng nhiều chất liệu khác nhau, chủ yếu là kích cỡ nhỏ.

Tại triển lãm, nhà nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Đoàn Thị Tình - một trong số ít các học trò ở mảng trang trí mỹ thuật sân khấu, người có thời gian gần gũi với ông trong những năm tháng cuối đời - chia sẻ:

“Dưới con mắt quan sát hiện thực sâu sắc của họa sĩ, từ đối tượng ngoại cảnh đi vào nội tâm bằng trình độ kỹ xảo tinh tế, làm chủ chất liệu họa phẩm trong hệ thống nhịp điệu sắc màu đỏ, nâu mặn mòi trong trẻo đã đưa ta trở về quá khứ với những hình ảnh sinh hoạt thanh bình chốn bên sông, xóm nhỏ, chợ quê, góc hè nơi phố thị... Đặc biệt, ở mảng trang phục của con người thể hiện trong từng bức vẽ đã phác họa lên một phần sử liệu phong phú, chính xác về đặc trưng hình dáng, màu sắc đến tính chất vật thể, hoàn cảnh, cách mang vận của chủ nhân đương thời. Với những gam màu trầm ấm, lặng lẽ mà nhẹ nhàng tươi sáng, gợi mỹ cảm bởi nét duyên dáng, tỉ mỉ, chân thực, càng xem càng thu hút, gần gũi, mang lại những rung động về cảm xúc chất hồn quê, sắc tộc Việt Nam…”.

 Cố họa sĩ Thang Trần Phềnh: Tài hoa và độc đáo -0
Chân dung cố họa sĩ Thang Trần Phềnh thời là sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương và khi ngoài 70 tuổi.     

Còn nhớ, cuốn sách đầu tiên về Thang Trần Phềnh có tên “Thang Trần Phềnh (1895 - 1972)” của tác giả Ngô Kim Khôi - cháu ngoại của họa sĩ Nguyễn Nam Sơn ra đời năm 2018 đã thực sự góp phần quan trọng trong việc “giải mã” cuộc đời nghệ thuật tài hoa, độc đáo và lặng lẽ của cố họa sĩ Thang Trần Phềnh. Cuốn sách “Thang Trần Phềnh - Hồi ký và tác phẩm” vừa được NXB Thế giới ấn hành đã cho công bố hơn 20 trang ghi chép của họa sĩ Thang Trần Phềnh, được xem như một “hồi ký ngắn gọn” của ông về con đường và những năm tháng hoạt động nghệ thuật của ông (hồi ký đề ngày kết thúc ghi chép là 25/7/1967).

Theo đó, Thang Trần Phềnh (tức Trần Văn Bình, tự Đạt Siêu) có bố đẻ là ông Thang Thọ Ký người lai Trung Quốc, mẹ là Lê Thị Ngát người Việt Nam. Lúc còn nhỏ cậu bé Phềnh học với thầy đồ nho, lớn lên học chữ Pháp, đến năm 1910 vào học Trường Bưởi. Vốn yêu thích và có năng khiếu vẽ bẩm sinh, nên cậu sớm được cha mua giấy bút cho tự tập vẽ.

Trong những trang viết của mình, cố họa sĩ Thang Trần Phềnh tự thuật rằng, cuối năm 1910 cũng là lần đầu tiên trong đời vẽ một bức tranh thuốc nước lên giấy khổ 30x60cm đặt tên là “Chùa Trấn Quốc trong buổi hoàng hôn” bày ở Đấu xảo Mỹ thuật năm 1911 và được một người Pháp tên là Georges Bois mua ngay trong ngày khai mạc. Về sau, người này còn tìm đến nhà riêng đặt mua thêm 2 bức nữa.

Việc bán được tranh khiến cậu bé Trần Phềnh có thêm động lực để vẽ, trong nhiều năm liền tranh của cậu luôn được bày và đoạt giải trong các cuộc Đấu xảo Mỹ thuật và từng được ông Vũ Đình Long dành nhiều lời ca ngợi trong bài “Khảo về thủy họa” đăng trên “Nam Phong tạp chí” số 77.

Trong suốt những năm tháng hoa niên đó, Trần Phềnh đã tự học, tự mày mò để vẽ tranh lụa, tranh sơn dầu, tranh màu nước với bút pháp mới mẻ và đã nhận được rất nhiều lời tán thưởng của các họa sĩ cùng thời. Năm 1923, Thang Trần Phềnh đoạt giải nhất Triển lãm Mỹ thuật của Hội Khai trí Tiến Đức của người Việt Nam mở ra lần thứ nhất với 2 bức tranh lịch sử bằng sơn dầu là “Hai Bà Trưng” (khổ 0,9x1,2m) và “Phạm Ngũ Lão” (khổ 70x94 cm).

 Cố họa sĩ Thang Trần Phềnh: Tài hoa và độc đáo -0
Một tác phẩm tranh màu nước của họa sĩ Thang Trần Phềnh sáng tác trong thời kỳ đi tản cư (1948).

Có thể nói, vào đầu thế kỷ XX khi nền mỹ thuật Việt Nam còn sơ khai, họa sĩ Thang Trần Phềnh đã nổi danh bậc nhất, với nhiều giải thưởng và những lời tán dương. Năm 1925 khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thành lập và chiêu sinh khóa đầu, ông và Tô Ngọc Vân đã đăng ký dự tuyển nhưng cả 2 đều… trượt. Việc một họa sĩ đã có danh tiếng như Trần Phềnh thi rớt kỳ tuyển sinh là một sự kiện gây chấn động dư luận thời bấy giờ. Nhưng đến kỳ tuyển sinh thứ 2 (năm 1926), cả ông và Tô Ngọc Vân đều đã đỗ và học chung khóa với những nhân vật nổi tiếng trong giới hội họa sau này như Vũ Cao Đàm, An Sơn Đỗ Đức Thuận.

Theo một số tài liệu đã được công bố, khá nhiều tác phẩm của Thang Trần Phềnh sau đó đã được gửi sang triển lãm và bán ở châu Âu. Hiện nay, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đang trưng bày 2 tác phẩm nổi tiếng của ông là “Phạm Ngũ Lão” (sơn dầu, 1923) và “Chân dung phụ nữ Lào” (sơn dầu, 1927). Ngoài ra, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam cũng là nơi lưu giữ khoảng 60 bức vẽ tĩnh vật, ký họa bằng mực nho, mực nước (phần lớn khổ 13x18cm), chủ yếu được sáng tác trong giai đoạn từ 1947 đến 1955.

Nhà nghiên cứu mỹ thuật Quang Việt cho rằng: “Nếu không kể trường hợp của họa sĩ Lê Văn Miến thì có nhiều lý do để cho rằng ở nước ta, Thang Trần Phềnh là họa sĩ đầu tiên vẽ tranh bằng chất liệu sơn dầu châu Âu và sớm giành được sự công nhận rộng rãi, thậm chí là sự công nhận của cả giới trí thức, giới tinh hoa đương thời. Trong thời gian học Trường Mỹ thuật, ông cũng là một trong số ít họa sĩ Việt Nam đầu tiên vẽ tranh lụa và thể hiện tác phẩm trang trí bằng chất liệu sơn mài, cũng như đã tham gia nhiều triển lãm quan trọng trong và ngoài nước…”.

Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, dường như họa sĩ Thang Trần Phềnh đã chọn đi một lối riêng mình, đó chính là con đường gắn bó với mỹ thuật sân khấu. Cũng theo những trang tự thuật của ông, năm 1912 khi được xem trang trí tranh cảnh của một đoàn Tân kịch Trung Quốc sang diễn ở Quảng Đông hội quán Hàng Buồm, ông đã có ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi về nhà nghiền ngẫm vẽ ra một bức sơn dầu lên vải dày thành một bức phông 2,4x3m, “vẽ một con đường đi vào trong vườn, một bên có nhà lá, một bên có rào cây, gần đó có vườn cây thấp, xa xa có viễn cảnh”. Có lẽ đây chính là tác phẩm mỹ thuật trang trí sân khấu đầu tay của ông, đánh dấu sự “chạm ngõ” và lựa chọn con đường dấn thân của ông với mỹ thuật sân khấu sau này. Ông cũng chính là viên gạch đầu tiên cho nền mỹ thuật sân khấu thuần Việt sơ khai của nước nhà.

Những năm sau đó, Trần Phềnh vừa vẽ tranh chơi bán, vừa vẽ bối cảnh cho các sân khấu như Sán Nhiên Đài, rạp Quảng Lạc, Nhà hát Lớn Hà Nội - Hải Phòng, Kinh Kỳ hí viện, rạp Kim Chung… Đến năm 1932, Thang Trần Phềnh lập ra Đoàn ca kịch Đồng Ấu lấy tên là “Ban hát Mỹ thuật Đồng Ấu” (gọi tắt là ban hát Trần Phềnh). Sau một thời gian tập luyện, ban hát đã đi biểu diễn lưu động khắp nơi trong suốt hơn 10 năm (từ 1932 đến 1943) với 7 vở diễn nổi danh một thời như: “Tam hoàng tử tranh hôn”, “Thất hiền quyến”, “Tống tửu Đơn Hùng Tín”, “Đức mẫu Thượng Ngàn”, “Đức mẫu Thoải”, “Kiều”, “Lã Bố hí Điêu Thuyền”.

Với nghệ thuật trang trí sân khấu, ông có rất nhiều sáng tạo, đặc biệt là phương pháp nhìn “tứ cố” để người xem cảm thấy như được hòa vào, chuyển động cùng không gian ước lệ của vở diễn. Ông đã biết cách sử dụng ánh sáng từ đèn chiếu để tạo ra những hiệu ứng tích cực và hiệu quả thẩm mĩ cao từ các bức vẽ trang trí. Kỳ tài này của Trần Phềnh đã được giới mộ điệu sân khấu khi đó vô cùng tán thưởng, nể phục.

Ghi nhận công lao to lớn của họa sĩ Thang Trần Phềnh với mỹ thuật sân khấu nước nhà, nhà nghiên cứu mỹ thuật sân khấu Đoàn Thị Tình nhận định: “Ở vai trò người mở đầu cho bộ môn nghệ thuật này và hoạt động trong đó suốt gần 50 năm, Thang Trần Phềnh vừa phải sáng tạo ra ngôn ngữ mà cũng vừa phải sáng tạo ra tác phẩm, từ phông màn, trang phục, hóa trang đến đạo cụ, ánh sáng. Các ghi chép, nghiên cứu phác thảo sân khấu của ông, đặc biệt cho các vở diễn cổ hoặc có đề tài cổ còn giữ được đến ngày nay là một nguồn tư liệu, một cái vốn quý báu để lại cho hậu thế. Không chỉ có giá trị về mặt nghệ thuật, nhất là nghệ thuật trang trí sân khấu mà còn có nhiều giá trị trên phương diện sử học, dân tộc học, xã hội học, phong tục học thấm đẫm tinh thần và thẩm mỹ Việt Nam…”.

Nguyệt Hà

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.