Cố Giáo sư - NSND Nguyễn Văn Thương: Dâng đời một di sản khí nhạc

Cố Giáo sư - NSND Nguyễn Văn Thương là người thầy của nhiều thế hệ nhạc sĩ, từng làm giám đốc đầu tiên và có công lớn xây dựng, phát triển Nhạc viện Hà Nội. Ông cũng là người đầu tiên của giới âm nhạc được Nhà nước vinh tặng hai danh hiệu cao quý: NSND và Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2 năm 2001). Cuộc đời sáng tác âm nhạc của ông luôn canh cánh nỗi niềm hướng về Nam...

Giáo sư Nguyễn Văn Thương đã vĩnh viễn lìa xa đời sống âm nhạc cách đây 15 năm ở tuổi 84. Nhắc đến ông, người yêu nhạc thường nhớ ngay đến "Đêm đông", "Bình Trị Thiên khói lửa" và một số ca khúc khác, trong khi ông còn di sản âm nhạc đồ sộ với nhiều bản khí nhạc đáng nể, từng đại diện cho Việt Nam được nhiều nghệ sĩ nổi tiếng biểu diễn trên sân khấu quốc tế.

Từ công chức bưu điện đến nhà soạn nhạc

Mùa hè năm 1936, sau khi đỗ bằng thành chung ở Huế, Nguyễn Văn Thương cùng một nhóm bạn thuê thuyền đi dã ngoại đêm trăng trên sông Hương, tắm táp và đàn hát cho nhau nghe. Chuyến đi ấn tượng đã mang lại cảm xúc cho bản nhạc đầu tiên của ông ra đời. Đó là bài "Trên sông Hương", mà theo ông là chuyển từ điệu thức thứ sang điệu thức trưởng vốn chưa nhạc sĩ Việt Nam nào thực hiện trước đó.

Rồi ba năm sau, đêm giao thừa Hà Nội năm 1939, chàng sinh viên Nguyễn Văn Thương không tiền về Huế ăn Tết, lang thang khắp phố phường trong nỗi nhớ nhà tê tái. Nghe tiếng còi tàu vọng lên từ sân ga Hàng Cỏ, nhìn hành khách nhộn nhịp hồi hương, ông thấy mình lạc loài lạ thường, cô đơn lạ thường. Chân bước qua phố Khâm Thiên, bỗng gặp một cô đầu đang đợi khách. Đôi tay trần trắng tái giữa trời sương lạnh. Thấy ông lơ đễnh, cô có vẻ buồn, bước vào chiếc gương soi lại mình... Tình khúc "Đêm đông" ra đời trong đêm đó…

GS-NSND Nguyễn Văn Thương.
GS-NSND Nguyễn Văn Thương.

Sau khi tham gia Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, Nguyễn Văn Thương hoà mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp tái xâm lược. Năm 1948, đang công tác ở Nghệ An, ông nghe tin quê hương bị giặc Pháp tấn công, đàn áp dã man. Trong nỗi đau thương tột cùng ấy, tráng khúc "Bình Trị Thiên khói lửa" đã hình thành: "Hướng về Nam!/ Ai đã qua Đèo Ngang, đã sang Ba Rền, mến dòng Sông Gianh biết danh Lũy Thầy/ Giờ đây lửa cháy ngút trời./Máu nhuộm đồng xanh, ôi đau thương điêu tàn...".

Không chỉ thành công các ca khúc, GS-NSND Nguyễn Văn Thương còn có đóng góp quan trọng vào nền khí nhạc khi kết hợp nhuần nhuyễn âm nhạc truyền thống dân tộc với kỹ thuật hiện đại, với cảm hứng chủ đạo là hướng về miền Nam như: "Đồng Khởi", "Nhớ về Nam", "Trở về đất mẹ", "Ngày hội non sông", "Buôn làng vào hội", "Vũ khúc Tây Nguyên", "Quê hương Tây Nguyên"…

Thành công bất ngờ với "Cỗ xe xuyên rừng" và cảm hứng giao hưởng "Đồng Khởi"

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương cho biết, lúc đầu ông đến với khí nhạc do một sự tình cờ. Cuối năm 1949, Chi hội Văn nghệ Liên khu 4 cử ông vào Bình Trị Thiên làm đại diện. Một người học trò cũ đã gặp ông nhờ tổ chức chương trình văn nghệ cho lễ mừng công của trung đoàn.

Đội văn nghệ chỉ có bốn văn công: một guitare, một sáo, hai mandoline, vừa đàn vừa hát "bao sân" hết bài này đến bài khác hơi đơn điệu. Ông bèn nghĩ cách thay đổi chương trình cho phong phú, hấp dẫn hơn. Và bài "Cỗ xe xuyên rừng", tức Diligence sous bois của Pháp được ông ghi lại cùng bốn văn công tập luyện, biểu diễn. Tiết mục rất thành công, được yêu cầu diễn lại. Giữa chiến khu, những người lính nông dân áo vải chân đất vẫn cảm nhận được âm điệu tiếng chim rừng, tiếng vó ngựa toát ra từ bản nhạc.

Khí nhạc đòi hỏi phải có kiến thức âm nhạc nhất định. Sau khi tác phẩm "Cỗ xe xuyên rừng" được hoan nghênh, Nguyễn Văn Thương bắt đầu hào hứng với khí nhạc, tự học để nâng cao trình độ và sáng tác. Ông được Nhà nước tạo điều kiện cho đi nước ngoài tu nghiệp.

Năm 1965, ông có cơ hội sang làm thực tập sinh ở Nhạc viện Bắc Kinh, nhưng do Cách mạng Văn hoá mà việc học tập dở dang. Đến năm 1969, ông lại được cử đi nghiên cứu sinh tại Nhạc viện Leipzig của Cộng hòa Dân chủ Đức. Và nhờ khoảng thời gian ở trời Âu, ông đã hoàn thành bản giao hưởng thơ "Đồng Khởi".

Ông thổ lộ rằng: "Nếu xem lại thì hầu hết tác phẩm của tôi đều viết về đề tài miền Nam, trong đó tôi tâm đắc và ấp ủ nhiều nhất là đề tài về Đồng Khởi. Vì vậy, lúc sang Đức tôi chỉ chú tâm nghiên cứu và học tập để có thể thực hiện được một bản thơ giao hưởng về Đồng Khởi và tôi đã hoàn thành được tác phẩm này. Điều vinh dự nhất đối với tôi là nhà trường đã đánh giá bản Đồng Khởi không đơn thuần chỉ là bài tập tốt nghiệp mà là một tác phẩm thực thụ có giá trị".

Những bản độc tấu âm vang sân khấu quốc tế

Ngoài giao hưởng, Nguyễn Văn Thương còn sáng tác nhiều bản độc tấu cho nhiều loại nhạc cụ. Năm 1956, khi Đoàn Nghệ thuật Trung Quốc sang nước ta, ông chứng kiến nghệ sĩ độc tấu sáo Phùng Tử Tồn biểu diễn thật ấn tượng và ôm ấp ý tưởng sáng tác bài sáo Việt Nam. Ông phối hợp với nghệ sĩ Ngọc Phan của Đài Tiếng nói Việt Nam lấy chủ đề từ bài dân ca Lý hoài nam và nâng cao cấu trúc để sáng tác thành bản khí nhạc "Nhớ về Nam", kết hợp hài hoà giữa vẻ đẹp hồn nhiên của âm nhạc dân gian với kỹ thuật tinh luyện của âm nhạc bác học hiện đại. Bản sáo "Nhớ về Nam" đã được tiếng sáo trúc của NSƯT Đinh Thìn cùng dàn nhạc Đoàn Ca múa nhân dân Trung ương biểu diễn đã đạt hiệu quả nghệ thuật cao.

Đến năm 1968, nhà soạn nhạc Nguyễn Văn Thương viết bản độc tấu sáo thứ hai là "Ngày hội non sông". Ngoài việc sử dụng những làn điệu quê hương miền Trung, ông còn dùng bộ gõ đệm cho sáo chứ không dùng dàn nhạc dân tộc như với bản "Nhớ về Nam". Tác phẩm "Ngày hội non sông" đã được NSND Đỗ Lộc biểu diễn rất thành công ở trong và ngoài nước, đoạt Huy chương vàng Liên hoan Thanh niên sinh viên thế giới lần thứ X tại thủ đô Berlin của Cộng hoà Dân chủ Đức năm 1973, được UNESCO và nhiều đài các nước ghi âm.

Cuối tháng 4-1975, nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương được Bộ Văn hoá cử làm tổng chỉ huy các đoàn nghệ thuật vào phục vụ miền Nam vừa giải phóng. Trên đường công tác, ông tranh thủ về thăm nhà ở Huế gặp lại cha già nhưng mẹ thì mất cách đó không lâu. Bản nhạc "Trở về đất mẹ" cho độc tấu cello và piano ra đời trong hoàn cảnh ấy, với niềm vui không trọn vẹn bởi nỗi đau thương mất mát. GS-NSND Bùi Gia Tường đã biểu diễn bài này lần đầu tiên và được người nghe hoan nghênh nồng nhiệt.

Năm 1978, nghệ sĩ độc tấu cello nổi tiếng Markus Stocker của Thụy Sĩ sang biểu diễn ở nước ta đã chọn "Trở về đất mẹ" đưa vào chương trình độc tấu của ông. Sau đó, trong quá trình lưu diễn ở các nước ông có gửi về cho hai nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và Trọng Bằng bản chương trình đêm diễn, trong đó "Trở về đất mẹ" là tác phẩm kết thúc. Và trước lúc mãi đi xa, giáo sư còn mong làm sao cho khí nhạc Việt Nam ngày càng có nhiều tác phẩm mang hơi thở dân tộc "bay" xa trên bầu trời âm nhạc thế giới!

Hàn Phong

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.