Chuyện cảm động xung quanh bài thơ “Em liên lạc” của đồng chí Lê Đức Thọ

Bài thơ “Em liên lạc” của tác giả Lê Đức Thọ đã góp phần làm phong phú nền thơ ca hiện đại Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp và đoạn trích của bài thơ đưa vào chương trình giảng dạy ở trường THCS một thời gian dài và kỷ niệm ngày lên lớp giảng dạy đoạn thơ ấy của nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Phi đã trở thành những trầm tích...

Cự Nẫm thuộc huyện Bố Trạch không những là “làng chiến đấu kiểu mẫu” của tỉnh Quảng Bình mà còn là của toàn quốc trong kháng chiến chống Pháp, vì quân dân biết tự rào làng chiến đấu, chống địch càn quét, bảo vệ cuộc sống của mình vô cùng oanh liệt.

Cự Nẫm trong chiến tranh chống Mỹ là cửa ngõ của chiến trường. Đây là nơi các đoàn quân trước khi vào Nam đều dừng lại để củng cố, trang bị thêm lực lượng, đạn dược, vũ khí. Người dân chịu nhiều đau thương do bom đạn Mỹ giội xuống, nhưng cũng tận tâm làm tròn nghĩa vụ của một hậu phương “sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”. Bởi vậy, Cự Nẫm đã hai lần được tuyên dương là đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và đã đi vào thơ ca, nhạc họa của nhiều tác giả nhiều thời kỳ.

Tháng 3-1948, sau nhiều trận thua đau, thực dân Pháp đã liều lĩnh mở một cuộc càn quét lớn, có máy bay, xe tăng, đại bác yểm trợ nhằm chiếm lại những vị trí quan trọng của nhiều tuyến đường chiến lược đi qua miền trung du rộng lớn phía Tây Bố Trạch - Quảng Bình.

Đồng chí Lê Đức Thọ.
Đồng chí Lê Đức Thọ.

Sau 3 ngày đêm quyết tử, nhằm bảo vệ sinh lực cách mạng, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Quảng Bình, các đơn vị dân quân xã Cự Nẫm liền rút lui về các địa phương chung quanh, còn một số ở lại trong làng, bí mật chiến đấu. Chú bé Nguyễn Xuân Cang mới 15 tuổi, liên lạc viên của đại đội dân quân Cự Nẫm được điều lên làm liên lạc ở tuyến giao liên đường rừng của chiến khu U Bò - Ba Rền phía Tây Bố Trạch.

Nơi đây, có điểm cao nhất là 530m so với mặt nước biển, là điểm dừng chân, nghỉ ngơi của các đoàn dân công, bộ đội, cán bộ vào Nam hay ra Bắc để tránh các lực lượng bố phòng của Pháp và quân ngụy ở đồng bằng.

Tháng 11 - 1948, có đoàn cán bộ Trung ương từ Việt Bắc, trên đường vào Nam công tác đã dừng chân lại đây. Đoàn gồm có 4 người, do đồng chí Lê Đức Thọ (sau này là Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng) làm Trưởng đoàn.

Theo kế hoạch, đoàn về làm việc với Tỉnh ủy Quảng Bình, lúc này đang tá túc trong rừng tại xã Xuân Trạch. Đây là tuyến đường rừng lắm dốc, lắm suối, lại hay bị địch phục kích, vì thế Nguyễn Xuân Cang có nhiệm vụ dẫn đường an toàn cho đoàn cán bộ cao cấp này. Trên đường đi, những tối cùng ngủ lại trong lán, giữa rừng, đồng chí Lê Đức Thọ đã hỏi han quê hương, gia đình, cuộc sống của Nguyễn Xuân Cang. Và những gì nghe và thấy được trên đường, đồng chí Lê Đức Thọ đã viết thành bài thơ “Em liên lạc”.

Sau 4 ngày ở lại chiến khu U Bò - Ba Rền và căn cứ Tỉnh ủy Quảng Bình ở xã Xuân Trạch, đoàn công tác của đồng chí Lê Đức Thọ tiếp tục lên đường vào Nam. Khi chia tay cuối dốc U Bò, đồng chí Lê Đức Thọ ôm Nguyễn Xuân Cang vào lòng, thơm lên trán em và tặng em một bộ áo quần cũ, một chiếc bi đông đựng nước.

Canh đã từ chối, nhưng, đồng chí Lê Đức Thọ bắt em phải nhận và bảo: “Em nhờ các chị chữa áo quần nhỏ lại bớt mà mặc, kẻo áo quần của em rách hết cả rồi. Còn cái bi đông nấu nước sôi đổ vào mà uống khi đi công tác. Uống nước khe nhiều là nhiễm bệnh đó!”. Rồi ông móc túi tặng em bài thơ “Em liên lạc”. Bài thơ được viết trên một tờ giấy bổi. Cang đã cất giữ được trong một thời gian dài, rồi sau đó bị nhàu nát vì mưa gió trong những lần đi công tác. Tuy nhiên, bài thơ đã được Cang học thuộc lòng. Thầy giáo Nguyễn Hữu Phi - Nguyên Hiệu trưởng Trường PTCS sau đó là Trường PTTH Cự Nẫm, nhà thơ, hội viên Hội VHNT Quảng Bình, người cùng xóm, được anh Nguyễn Xuân Cang lúc còn sống kể lại rành rọt chuyện mình làm liên lạc và nhận bài thơ của đồng chí Lê Đức Thọ như thế nào, khi đang còn đương chức, rồi ghi lại bài thơ ấy từ anh Nguyễn Xuân Cang và lưu lại cho đến bây giờ.

Người viết bài này đã đối chiếu không sai sót bao nhiêu so với văn bản mà tác giả Lê Đức Thọ cho in trong tuyển tập thơ của ông do NXB Văn học ấn hành năm 1986 (trang 32 - 33), với lời đề tựa: “Tặng các em liên lạc quãng đường Ba Rền - Liên khu bốn”.

Chuyện tác giả, nhân vật trong bài thơ, gia đình và bài thơ đã đi vào kỷ niệm sâu sắc của nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Phi những ngày còn đứng lớp của ông. Ông cho tôi biết, bài thơ của tác giả Lê Đức Thọ viết vào tháng 11/1948 dài 78 câu. Đó là một phóng sự - thơ kể lại cuộc gặp gỡ giữa tác giả và cậu bé liên lạc Nguyễn Xuân Cang. Sách giáo khoa Ngữ văn Trường THCS trước 1985, Bộ Giáo dục đã trích từ câu 13 đến câu 36 để đưa vào chương trình dạy và học.

Sau đây là toàn đoạn trích đó: “Tuổi em nay mới mười lăm/ Người làng Cự Nẫm chắc anh biết rồi/ Mới hôm nào, giặc đến nơi/ Cửa nhà giây phút tơi bời ra tro/ Mẹ em thất lạc đường mô/ Ngày nay sống chết, đói no thế nào?”/ (Mắt nhìn trong thăm thẳm/ Lời em nói nghẹn ngào/ Cây rừng im tiếng gió/ Lòng anh thấy nao nao)/ Rồi từ buổi ấy em liên lạc/ Khi ở Nhã Nam, khi Ngọn Rào/ Đường luồn qua rừng rậm/ Hiểm trở và gian lao/ Vách lèn thăm thẳm đứng/ Dốc ngước mấy tầm cao/ Vịn cây, em lần bước/ Có khi ngã lộn nhào/ Mắt hoa đầu gối mỏi/ Xuống dốc, người như lao/ Gió lạnh mồ hôi đẫm/ Hơi thở bật từng hồi/ “Lâu ngày quen anh ạ!/ Cực khổ mà em vui”.

Ông Nguyễn Hữu Phi kể lại một kỷ niệm khó quên, khoảng năm 1980, ông đang là giáo viên dạy văn Trường THCS Tây Trạch, huyện Bố Trạch. Hưởng ứng đợt thao giảng lấy thành tích chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam (20/11) cũng là lúc sắp có tiết giảng văn đoạn trích trên. Giờ giảng đó, có đầy đủ giáo viên giảng dạy cùng bộ môn và lãnh đạo trường, đủ các thành phần đến dự.

Thật bất ngờ, gần cuối tiết học, phòng học bỗng có tiếng khóc nức nở. Mọi người giật mình, không rõ tại sao. Thì ra, đó là tiếng khóc của em Nguyễn Văn Thùy, con út của liệt sĩ Nguyễn Xuân Cang. Bố em, nhân vật trong bài thơ đang được thầy giáo Nguyễn Hữu Phi giảng dạy. Em khóc vì thấy bố mình là con người khí phách như thế. Tự hào, cảm động qua lời dạy của thầy, đã làm em trào nước mắt.

Đó là một kỷ niệm sâu sắc trong đời làm thầy giáo của nhà thơ Nguyễn Hữu Phi mà không phải ai cũng có được.

Nhà thơ, thầy giáo Nguyễn Hữu Phi (bên trái) cùng anh Nguyễn Văn Thùy bên mộ liệt sĩ Nguyễn Xuân Cang tại nghĩa trang liệt sĩ xã Cự Nẫm.
Nhà thơ, thầy giáo Nguyễn Hữu Phi (bên trái) cùng anh Nguyễn Văn Thùy bên mộ liệt sĩ Nguyễn Xuân Cang tại nghĩa trang liệt sĩ xã Cự Nẫm.

Nguyễn Xuân Cang trong chống Mỹ cứu nước là Trưởng trạm 14 Xăng dầu, thuộc Binh đoàn 559, đóng quân trên đường chiến lược 15A, đoạn qua Bố Trạch. Ngày 21/3/1971, anh đã hy sinh trong chuyến chỉ huy đội thuyền chở hàng phục vụ chiến trường tại phà Xuân Sơn, tại khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hiện nay. Gia đình và địa phương đã đưa hài cốt của anh về an nghỉ tại nghĩa trang xã Cự Nẫm, một nghĩa trang khang trang, bề thế, tôn nghiêm.

Vợ anh, bà Nguyễn Thị Đính sinh hạ với chồng được 3 đứa con trai. Bà tần tảo, một mình nuôi các con từ lúc 39 tuổi, khi chồng bà mãi mãi ra đi. Làm thân cò lặn lội vượt qua dốc cuộc đời quá nhọc nhằn và khổ ải giữa vùng quê nghèo làng Cự Nẫm này, bà Nguyễn Thị Đính quả là một hình ảnh tuyệt vời về truyền thống đảm đang, chịu thương, chịu khó của những người phụ nữ Việt Nam có chồng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.

Bây giờ, các con của bà đã trưởng thành. Một đang sống ở Khe Sanh, một là y tá điều dưỡng tại Bệnh viện Việt Nam - Hà Lan (Đông Hà - Quảng Trị). Riêng cậu út là Nguyễn Văn Thùy, sau những năm đi làm thợ nề nhiều nơi, đã đưa vợ và hai con về sống ở quê, để phụng dưỡng mẹ tuổi già.

Bài thơ “Em liên lạc” của tác giả Lê Đức Thọ đã góp phần làm phong phú nền thơ ca hiện đại Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp và đoạn trích của bài thơ đưa vào chương trình giảng dạy ở trường THCS một thời gian dài và kỷ niệm ngày lên lớp giảng dạy đoạn thơ ấy của nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Phi đã trở thành những trầm tích.

Tháng 8 năm 2018, ở tuổi 77, nhà thơ, nhà giáo Nguyễn Hữu Phi đã cho ra đời tổng tập “Thơ văn và cuộc đời” của mình do NXB Hội Nhà văn ấn hành, dày 458 trang, khổ 16x24cm, trong đó có chuyện kể sự ra đời của bài thơ “Em liên lạc” của tác giả Lê Đức Thọ thật hấp dẫn người đọc.

Đồng Hới, 9/2018

Hồ Ngọc Diệp

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.