Mùa Vu Lan báo hiếu

Chữ hiếu và thực hành “Đạo hiếu”

Hơn 20 năm nghiên cứu tâm linh, nghiên cứu về thiền và đạo Phật, nhà văn, nhà báo Hoàng Anh Sướng đã từng bước, bằng nhiều hình thức như nói chuyện, thuyết giảng, viết sách… đã chia sẻ những góc nhìn, cách kiến giải đầy sức thuyết phục về nguồn gốc của những hạnh phúc hay khổ đau của kiếp người.

Từ việc thực hành về tâm linh, nhà văn đã dẫn dắt chúng ta đi đến gần hơn những hiểu biết về vấn đề tâm linh, từ đó đã có không ít người “ngộ ra” để thay đổi cách sống của mình, thay đổi cách báo hiếu, thờ cúng, tu tập... Tháng 7 là mùa Vu Lan báo hiếu, Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện với nhà văn, nhà báo Hoàng Anh Sướng xung quanh vấn đề này.

- Thưa nhà văn, nhà báo Hoàng Anh Sướng, thời gian qua, cứ đến dịp đầu xuân năm mới hay mùa Vu Lan báo hiếu, khắp các chùa chiền trong và ngoài nước, luôn tấp nập Phật tử và người hành hương. Khói nhang, khói đốt tiền vàng mã mù mịt… liệu đó có phải là “điềm lành” của đất nước?

+ Có thể với ai đó, thấy cảnh dân ta nườm nượp chen lấn đổ xô đi lễ, quỳ lạy sì sụp khấn vái ở các đình, chùa, miếu mạo lạc quan cho rằng, đó là vì dân ta mộ đạo, đạo ở Việt Nam đang thịnh, nhưng với tôi, đó là một thực trạng đáng buồn, đáng lo, rất đáng báo động.

Cách đây chừng 20 năm, trong một cuộc đàm đạo với tôi về vấn đề này, nhà văn hóa tâm linh nổi tiếng Phan Oanh đã thốt lên một cách chua xót: “Dân sính lễ là điềm suy xã tắc. Bao giờ dân giác ngộ đạo mới là điềm thịnh của quốc gia”. Sau này, qua rất nhiều trải nghiệm, càng ngẫm tôi càng thấy bà Phan Oanh nói đúng. Song lúc ấy, tôi đã băn khoăn hỏi bà: “Tại sao dân sính lễ lại là điềm suy?”.

Bà Phan Oanh giảng giải: “Ngạn ngữ dân tộc ta có câu: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Tôi tạm cắt nghĩa là: Thứ nhất tu tại gia không phải là lễ tại nhà. Đó là mối quan hệ giữa người với người trong huyết tộc.

Ví như cha mẹ tôi sinh hạ được 5 người con. Nhưng cha mẹ nói: “Chỉ thích ở với cô Oanh thôi”. Thì tôi nuôi mẹ, đó là nhân duyên, cái lý của nhà Phật. Lúc khỏe cụ trông nhà cho tôi là duyên. Lúc ốm thì là nợ. Cụ ở với tôi thì dứt khoát nhân tài, vật lực, công hạnh, bản thân tôi phải cống hiến 70%, còn bốn vị kia chỉ có 30% thôi.

Nhà văn, nhà báo Hoàng Anh Sướng.
Nhà văn, nhà báo Hoàng Anh Sướng.

Nếu tôi ngộ đạo thì tôi làm bằng sự tự nguyện, tôi được công đức. Đấy mới là tu. Còn nếu vô đạo, tôi sẽ bảo: “Cụ đẻ ra được 5 người chứ không phải mình tôi, các ông bà chia nhau đến để mà hầu cụ”. Một ví dụ nữa. Có một người bạn rất giỏi về mảng dự báo bảo: “Oanh ơi! Cẩn thận không năm nay nhà Oanh mất xe đấy”. Và nếu như người dự báo ấy giỏi, tháng 10 tôi bị mất xe thật. Nếu ngộ đạo, tôi sẽ nói với chồng: “Chắc nó vào chương trình rồi anh ạ!”, thì xe mất nhưng vợ chồng tôi không cãi nhau, tinh thần nhà tôi không nát. Và tuyệt vời hơn nữa khi tôi nhận được một câu: “Thôi em ạ. Năm ngoái các cụ cho mình 10 cái xe, năm nay mất 1 cái, yên tâm đi”. Đấy mới là tu. Chứ không phải rằm, mồng một, con không đến chùa, con lễ ở nhà là tu tại gia.

Thứ hai tu chợ. Đó là mối quan hệ ngoài huyết tộc nhưng diễn ra sắc tục. Chị tử tế, chị đi chợ đoan trang. Bà nhẹ nhàng, bà đi chợ ý nhị. Tôi tham, tôi mua một cái cải bắp, bằng được tay nem tay chanh thêm cho bác củ hành. Qua hành vi mua bán bộc lộ hết tính nết, bao nhiêu nọc độc có cơ lộ rõ. Đi đến công đường không nghĩ chuyện làm, chỉ nghĩ chuyện lật đổ. Trong khi đó, trong số mệnh mình, nếu mình hiểu mình chỉ là quân xe thì làm sao mình lên tướng được. Vốn của mình nó thế, nó phải thế. Phật nói rất rõ ràng, nó là nhân quả. Còn nếu hiểu, kiếp này mình rất giỏi nhưng chỉ làm trợ lý, làm quân xe thì mình làm hoàn thành công việc của xe, mình đã đắc đạo.

Thứ ba tu chùa. Có nghĩa là tu ở nhà cho tâm sáng, ứng xử ở ngoài cho đức rộng thì anh đến chùa là báo công với người Mẹ thiên nhiên. Mà một là công, hai là tội. Ở Việt Nam bây giờ, người hư đi lễ nhiều. Tôi cam đoan nhiều người đánh đề ngày nào cũng đi lễ. Cà phê bóng đá ngày nào cũng đi lễ. Chạy trốn pháp luật, buôn gian bán lận đi lễ… Còn những người đổ mồ hôi sôi nước mắt, đầu tắt mặt tối làm quần quật thì thời gian đâu mà đi lễ. Cho nên dân sính lễ là điềm suy xã tắc. Cho nên phải tốt từ nhà, tốt đến xã hội mới đi lễ”. Một câu đơn giản vô cùng mà tôi thấm thía. Càng ngẫm càng hay, càng đúng.

- Có một thực tế là hiện nay chúng ta có rất nhiều chùa và người đi hành lễ, nhưng tình hình tội phạm vẫn không ngừng gia tăng và đau lòng hơn là những vụ án con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau… Nhà văn có thể lý giải về vấn đề này?

+ Thực tế anh vừa nêu là một nghịch lý rất chua xót và đau lòng. Nguyên nhân căn bản, sâu xa dẫn đến nghịch lý ấy, theo tôi, đó chính là vì dân Việt Nam thiếu… Đạo. Chúng ta thiếu đạo, trước hết, bởi mấy chục năm qua, môn Đạo đức trong nhà trường, từ cấp 1 đến cấp 3, đã dạy quá nhiều về luân lý giáo điều khô cứng. Người ta dạy Đức mà không dạy Đạo, dạy lý thuyết mà không thực hành.

Cho nên, từ thế hệ này đến thế hệ kia, lớn bé, già trẻ, đạo đức cứ xuống cấp. Nói thì hay mà làm thì dở. Nói một đằng làm một nẻo. Buồn vô cùng. Và càng buồn hơn khi những năm gần đây, không hiếm nhà sư đã biến chùa thành nơi kinh doanh Phật thánh bằng cách tiêm nhiễm vào cái tâm vốn đã đầy rẫy những tham, sân, si của dân chúng rằng: Phật là vị thần linh có phép thuật muôn màu, có thể ban tặng tiền bạc, địa vị, danh vọng, ái tình, hóa giải vận hạn, chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện…

Thế là cứ vào đầu năm, rồi vào ngày rằm, mồng một, hàng biển người chen lấn, xô đẩy đến các chùa để làm lễ dâng sao giải hạn, thỉnh vong giải nghiệp… Họ dâng lên bàn thờ Phật chút “lễ bạc” mà “tâm thành” của họ cầu xin Ngài đủ thứ: nào sức khỏe, nào bạc tiền, nào công danh, nào tình ái... Điều đó khiến cho nhiều người nghĩ rằng: người có đạo là người hay đi lễ. Thế mới buồn.

Theo tôi, người có đạo, trước hết phải là người có văn hoá. Hiện nay, chúng ta đang nhầm lẫn giữa tri thức với văn hoá. Người trí thức bây giờ hơi đông nhưng người có văn hóa, tiếc thay, bây giờ hơi hiếm. Và người có đạo lại càng hiếm.

Gần đây, dư luận đã từng thốt lên một cách đầy chua xót rằng: “Đây là đỉnh điểm của thời mạt Pháp”, “Sư bây giờ toàn là sư hổ mang”, “Nhà chùa bây giờ là nhà máy in tiền”… Chao ôi! Nghe mà đau lòng quá. Có một thực tế là khoảng chục năm trở lại đây, hàng loạt ngôi chùa lớn mọc lên như nấm ở nước ta. Để có tiền xây dựng, các sư phải đi cúng tế, làm lễ dâng sao giải hạn, kêu gọi lòng hảo tâm đóng góp của các Phật tử… Nhiều khi tài chính không đủ, một số nhà sư phải đi vay ngân hàng, lo trả nợ đến mất ăn mất ngủ. Tôi đã từng gặp những nhà sư xây dựng đến 6-7 ngôi chùa. Ngôi nào cũng hoành tráng. Hễ gặp là thầy kêu “mệt quá, lo quá”.

Tôi hỏi: “Thầy xây nhiều chùa thế để làm gì?”. Thầy bảo: “Chắc tại kiếp trước thầy phá chùa nhiều nên kiếp này thầy phải xây để trả nợ”. Tôi hỏi: “Chùa lớn thế này, thầy có tổ chức các khóa tu cho chúng sinh không?”. Thầy cười bảo: “Thầy bận lắm. Thời gian đâu mà tổ chức. Chỉ nội việc tìm các đệ tử trông nom các chùa cho thầy đã đủ mệt”.

Tôi nghe mà buồn quá. Bổn phận của các thầy tu, tôi nghĩ, không phải là xây dựng những ngôi chùa lớn, bức tượng lớn. Bổn phận của họ là xây dựng những “ngôi chùa” của trí tuệ, của lòng từ bi, ngôi chùa của hiểu biết, thương yêu trong tâm hồn, trái tim mọi người. Tiếc thay, sứ mệnh ấy, họ lại không quan tâm đến.

-  Vậy theo nhà văn, chúng ta nên hiểu như thế nào về chữ Hiếu và có thể nâng tầm lên trở thành đạo, “Đạo hiếu”. Và chúng ta nên làm gì trong mùa Vu Lan báo hiếu để đúng với tinh thần Đạo hiếu?

+ Những ngày này, ai ưu thời mẫn thế cũng thấy lo lắng trước sự băng hoại của đạo đức xã hội. Tôi nghĩ, muốn xây dựng một nền đạo đức xã hội tốt đẹp, nhân văn, cần trông cậy rất nhiều vào tôn giáo, trong đó có đạo Phật. Song muốn phục vụ được xã hội thì trước hết, các nhà tu hành phải thanh lọc hàng ngũ của mình, thanh lọc thân, khẩu, ý của mình thì mới có thể giúp thanh lọc xã hội.

Đạo Phật không chỉ là một tôn giáo. Đạo Phật là một kho tàng tuệ giác với những phương pháp rất cụ thể có thể giúp con người tháo gỡ, chuyển hóa những khó khăn, những khổ đau, thiết lập tình thương, chế tác được hạnh phúc, ngăn được sự sa đọa…

Một nền đạo đức xã hội tốt đẹp bao giờ cũng được xây dựng bắt đầu từ chữ Hiếu. Hiếu là lòng hiếu thảo, tôn kính, yêu thương cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Một người không biết yêu thương cha mẹ, chắc chắn người ấy không thể yêu thương người khác. Không phải ngẫu nhiên, từ thời xa xưa, tổ tiên chúng ta đã đề cao chữ hiếu, đã ý thức xây dựng thiết lập một xã hội tốt đẹp trên nền tảng của đạo hiếu.

Đạo Phật cũng đề cao chữ hiếu. Mùa lễ Vu Lan vào tháng bảy âm lịch hằng năm chính là mùa báo hiếu, là dịp để chúng ta tưởng nhớ vào báo hiếu công ơn cha mẹ. Nó xuất phát từ sự tích về Bồ tát Mục Kiền Liên đại hiếu đã cứu mẹ của mình ra khỏi kiếp ngạ quỷ. Từ mùa lễ Vu Lan, Thiền sư nổi tiếng Thích Nhất Hạnh đã sáng tạo ra lễ Bông hồng cài áo. Bông hồng là biểu tượng của tình yêu, sự cao quý. Những người đến chùa đều không quên dừng lại để cài lên ngực một bông hồng, để nhắc nhớ về công ơn của cha mẹ. Bông hồng màu đỏ cho những ai may mắn còn cha mẹ trên đời, bông hồng màu hồng cho những người còn mẹ, mất cha và bông hồng trắng cho những người kém may mắn khi không còn cha và mẹ trên đời…

Thời Đức Phật còn tại thế, Ngài đã dạy rằng: “Vào thời chưa có Phật ra đời thì thờ cha, thờ mẹ cũng là thờ Phật. Vì cha mẹ là Phật đó. Đừng mất công đi tìm Phật ở nơi nào khác”. Ngày hôm nay, chúng ta nói được lời yêu thương nào, làm được điều gì tốt đẹp cho cha mẹ để cha mẹ vui thì chúng ta hãy làm ngay đi, đừng để đến ngày mai, sợ rằng quá muộn.

- Xin cảm ơn nhà văn!

Nguyễn Thế Hùng (thực hiện)

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.