Cho đời một tiếng chiêng

Neo níu nguồn cội, ý niệm đó đối với Y Phôn KSơr, Krajan Dick, Linh Nga Niê Kdam, Krajan Plin..., không đơn thuần là khẳng định sự tồn tại cái thần thức văn hóa Tây Nguyên trong đời sống đương đại, mà quan trọng hơn để tri nhận cái vẻ đẹp mang cốt cách quê xứ và từ đấy tìm ra con đường đi phù hợp cho nền văn hóa ấy trong dòng chảy thời gian...

Âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên là tiếng nói nữ quyền của người Tây Nguyên. Tiếng nói ấy khi thăng khi trầm nhưng chưa bao giờ mất đi trong đời sống thực tại lẫn trong tâm thức cộng đồng người Tây Nguyên. Nó vẫn luôn được thẩm thấu, tích bồi để rồi ngày một dày thêm bởi chính những người con Tây Nguyên nặng lòng với các giá trị văn hóa cơ bản đã trở thành căn tính của cộng đồng các dân tộc bản địa Tây Nguyên, căn tính cố kết cộng đồng.

Mới 8 tuổi, cậu bé Y Phôn KSơr, người sau này là nhạc sĩ Y Phôn KSơr, tác giả của những ca khúc nổi tiếng: Chim phí bay về cội nguồn, Đôi chân trần, Đi tìm lời ru Nữ thần mặt trời, Chiếc gùi... đã thuộc nằm lòng các điệu chiêng, bài chiêng. Chỉ cần nghe qua tiếng chiêng là Y Phôn KSơr phân biệt được đó là tiếng chiêng của dân tộc nào và biết điệu chiêng đó đang nói về điều gì.

“Thường thì chiêng Jrai, chiêng Bana tâm sự bằng giai điệu, còn chiêng Êđê, chiêng MNông và chiêng KHo... lại tâm sự bằng tiết tấu. Tùy theo từng dân tộc, từng buôn, bon, plei... mà có sự sắp xếp, định biên thành các dàn nhạc khác nhau. Cả lối đánh, kỹ thuật đánh mỗi dân tộc, mỗi làng buôn cũng mỗi khác. Thậm chí, buôn này cách buôn kia chỉ 1 cây số thôi là cách chơi chiêng đã khác nhau rồi”, nhạc sĩ Y Phôn KSơr chia sẻ.

Nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam (bên trái) chia sẻ cùng tác giả về văn hóa Tây Nguyên.
Nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam (bên trái) chia sẻ cùng tác giả về văn hóa Tây Nguyên.

Theo nhạc sĩ Y Phôn KSơr, sự khác biệt đó làm nên tính đa dạng của âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên. Nếu cồng chiêng KHo, Mạ ở Lâm Đồng và cồng chiêng MNông ở Đắk Nông thiết lập thang 3 âm (bộ chiêng 3 chiếc) hoặc thang 6 âm (bộ chiêng 6 chiếc) cho mỗi bộ chiêng, thì cồng chiêng Bana và Jrai thiết lập thang 4 âm, thang 5 âm, thang 8 âm và thang trên 8 âm.

So với âm nhạc ngũ cung phương Tây, quãng 3 và quãng 5 trong cồng chiêng KHo, Mạ, MNông giữa trưởng và thứ không rõ ràng, còn các quãng 8, quãng 5 và quãng 4 của cồng chiêng Bana, Jrai thì hoàn toàn đúng với âm nhạc ngũ cung phương Tây.

Còn về cách thức tấu chiêng thì người MNông, Mạ, KHo... sử dụng nắm tay đấm để tấu chiêng, trong khi người Jrai, Bana, Êđê... tấu chiêng và cồng (chiêng có núm) bằng dùi. Một sự khác biệt cơ bản nữa, các dân tộc Mạ, KHo ở Lâm Đồng và dân tộc MNông ở Đắk Nông chủ yếu tấu chiêng, rất ít khi tấu cồng, các dân tộc khác ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk thường tấu cả cồng lẫn chiêng, kèm theo một số nhạc cụ tre nứa.

Qua nhiều năm lăn lộn ở các làng buôn để tìm sự thật các điệu chiêng của các dân tộc Êđê, Bana, Jrai, Chăm HRoi, MNông, Xêđăng, KHo, Mạ... thuộc địa bàn các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Lâm Đồng, Gia Lai và Kon Tum là gì và rồi cuối cùng nhạc sĩ Y Phôn KSơr đã nhận ra, âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên có một điểm chung khao khát, một ý thức trách nhiệm trở về cội nguồn, gắn kết trong ngữ hệ mẫu quyền.

“Trở về nguồn cội là một khao khát. Mà việc các thành viên trong dàn cồng chiêng trong lúc diễn tấu đi từ phải qua trái, ngược chiều kim đồng hồ, đã nói lên ý nghĩa ngược thời gian trở về quá khứ, tức tìm lại cội nguồn. Tôi đang đi trên con đường ngày xưa ông bà đi và gom nhặt từng giá trị văn hóa mà ông bà đã để lại trên con đường ấy. Tôi làm điều này từ trái tim, từ dòng máu, chỉ mong sau này mình chết đi thì để lại cho con cháu, cho đời một tiếng chiêng”, nhạc sĩ Y Phôn KSơr tâm sự.

Trong con người nhạc sĩ Y Phôn KSơr, Tây Nguyên hơn cả một tình yêu, nó là máu thịt, cũng như cồng chiêng là máu thịt. Thế nên, ngoài thời gian công tác tại Đoàn Ca múa nhạc dân tộc Đắk Lắk, nhạc sĩ Y Phôn KSơr còn biên soạn giáo trình, tham gia công tác giảng dạy cồng chiêng và các loại nhạc cụ liên quan đến cồng chiêng như bộ nhạc cụ gõ bằng tre nứa: Trưng (âm cao), Trưng (âm trầm), Đinh Păh, Ching Kram; bộ nhạc cụ tre nứa màu sắc: Ring reo, Bộ lắc ống tre, Thanh tre; bộ nhạc cụ hơi: Đinh Buốt (sáo), Đinh Năm (kèn 6 ống), Kki Păh (tù và), Tak Tar (kèn một ống), Gôch (đàn môi), Đinh Tút (sáo dàn) và bộ nhạc dây: Đàn Bố (đàn 2 dây), Đàn Goong (đàn 6 dây)... cho thế hệ trẻ Tây Nguyên. Tất nhiên, với người nhạc sĩ này, không thể thiếu những chuyến trở về buôn làng để sưu tầm và tìm cảm xúc sáng tác nhạc. “Những ca khúc do Y Phôn KSơr sáng tác có sử dụng giai điệu, tiết tấu của dân nhạc Tây Nguyên rất thành công. Có những bài hát đã vượt ra khỏi Tây Nguyên”, nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam nhận xét.

Chưa dừng lại ở đó, nhạc sĩ Y Phôn KSơr đang ấp ủ một hướng đi mới khi kết hợp 3 cụm chiêng: chiêng KHo và chiêng MNông, chiêng Jrai và chiêng Bana, chiêng Êđê và chiêng Chăm HRoi phát triển thành chromatic (âm giai nửa cung) để đánh những tác phẩm âm nhạc lớn của nước ngoài như sonate (giao hưởng) chẳng hạn. “Ở giữa mỗi phân đoạn, tôi dự định sử dụng một bài hát hoặc một câu nhạc dẫn nhằm tạo sắc thái mới cho âm nhạc cồng chiêng. Sau cùng, tôi sử dụng âm thanh cao vút của cồng chiêng Êđê làm cao trào”, nhạc sĩ Y Phôn KSơr nói.

Có cùng tâm cảm như nhạc sĩ Y Phôn KSơr, tác giả của một số ca khúc được mến mộ: Nồng nàn cao nguyên, Cánh sóng và chuyện tình, Men tình xuân, Gọi gió..., nhạc sĩ Krajan Dick, lại yêu Tây Nguyên theo cách của mình. 

Từ vốn văn hóa bản địa KHo, ông biến nó thành nguồn cảm hứng, thành tư liệu, thành bối cảnh cho việc sáng tạo các ý tưởng tạo lập các sản phẩm văn hóa du lịch. Nhạc sĩ Krajan Dick thành lập các đội cồng chiêng ngay tại nơi mình sinh (núi Lang Biang, huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng) để góp phần truyền bá những nét đặc trưng nơi âm nhạc cồng chiêng, kết hợp văn hóa ẩm thực, cùng tập tục bản địa KHo đến với du khách trong và ngoài nước. Nhạc sĩ Krajan Dick còn là nhà khảo cứu văn hóa, một nghệ nhân cồng chiêng. Những gì nhạc sĩ Krajan Dick làm cho âm nhạc, cho văn hóa truyền thống Tây Nguyên đã được mọi người biết đến và ghi nhận.

Nhạc sĩ Y Phôn KSơr, Phó Trưởng Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Đắk Lắk.
Nhạc sĩ Y Phôn KSơr, Phó Trưởng Đoàn ca múa nhạc dân tộc tỉnh Đắk Lắk.

Cũng kinh doanh vốn văn hóa truyền thống KHo ở chân núi Lang Biang, nhưng cách làm của nhạc sĩ Krajan Plin rất trẻ trung và hiện đại. Tây Nguyên của Krajan Plin là một Tây Nguyên mới, mới trong phương cách Krajan Plin sử dụng cồng chiêng vào hoạt động du lịch văn hóa, khi biết mở rộng biên độ giao lưu với thế giới bên ngoài, biết ứng dụng tiện nghi công nghệ hiện đại vào đời sống biểu diễn.

Tuy vậy, Tây Nguyên trong thẳm sâu con người Krajan Plin vẫn là một Tây Nguyên chân mộc, thô ráp, xa xăm. Chất điệu đó được Krajan Plin thể hiện rõ trong ca khúc: Ka Bing ơi, Giữ ấm bếp hồng... Trong khi đó, nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam lại miệt mài với những công trình khảo cứu, sưu tầm về các điệu ru, những câu chuyện cổ, tri thức dân gian về đời sống, về nghệ thuật, về văn hóa, bên cạnh việc giải nghĩa các bài chiêng, điệu chiêng, cùng những tham luận khoa học sắc sảo.

Bằng chính sự hiểu biết và trách nhiệm của mình, nhà Tây Nguyên học Linh Nga Niê Kdam đã góp phần tích cực vào việc gìn giữ và rồi đưa các giá trị văn hóa bản địa Tây Nguyên trở về sống giữa cộng đồng.

Neo níu nguồn cội, ý niệm đó đối với Y Phôn KSơr, Krajan Dick, Linh Nga Niê Kdam, Krajan Plin..., không đơn thuần là khẳng định sự tồn tại cái thần thức văn hóa Tây Nguyên trong đời sống đương đại, mà quan trọng hơn để tri nhận cái vẻ đẹp mang cốt cách quê xứ và từ đấy tìm ra con đường đi phù hợp cho nền văn hóa ấy trong dòng chảy thời gian. Bởi thế, việc ấp ủ phát triển âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thành âm giai nửa cung để đánh những tác phẩm âm nhạc lớn thế giới của Y Phôn KSơr, hay giăng giăng trong âm nhạc của Y Phôn KSơr, Krajan Plin, Krajan Dick, hoặc trong các công trình khảo cứu của Linh Nga Niê Kdam luôn luôn nở sáng tâm thức trở về neo níu nguồn cội. Họ, những người con Tây Nguyên, đang nỗ lực gìn giữ và tìm cách phát triển các giá trị quý báu nhất mà cộng đồng dân tộc Tây Nguyên đã dày công tạo dựng với tâm niệm - cho đời một tiếng chiêng - như cách nhạc sĩ Y Phôn KSơr tự nhận.

Trịnh Chu

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.