Nhân 15 năm ngày mất của nhà thơ Thu Bồn

Chỉ có thể là… Thu Bồn

Tháng 6-2017, sau khi nhà thơ Thu Bồn được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật, tại quê hương, xã Điện Thắng - Điện Bàn - Quảng Nam, vào ngày giỗ lần thứ 14, đã có một đêm tưởng niệm thật hoành tráng và xúc động. Cả ngàn quan khách, bạn bè, người thân và bà con quê nhà đã tham dự...

Góp vào chương trình văn nghệ sôi động là các nghệ sĩ Đoàn Nghệ thuật  Quảng Nam và Đội Cồng chiêng Kon Tum, nơi Thu Bồn đã gắn bó cả trong chiến tranh và hòa bình. Nhiều  bài thơ Thu Bồn được ngâm, nhiều bài hát phổ thơ Thu Bồn được trình diễn chen giữa các màn múa hát và cồng chiêng. Nhiều kỷ niệm về nhà thơ được những người bạn cùng thời kể lại để thấy tính cách và tầm vóc, sự gắn bó của Thu Bồn với đất nước, với quê hương. Chỉ có thể là tài năng Thu Bồn mới có sức tập hợp tự nguyện ấy từ bạn bè và người hâm mộ.

Chăm lo kinh phí cho ngày giỗ và đêm văn nghệ một phần là do mẹ con chị Đỗ Thanh Thu và con trai Hà Băng Ngàn. Nhà văn Nguyên Ngọc đã kể lại những gian truân, cách trở của mối tình lớn Thu Bồn và Thanh Thu, để đôi bạn trẻ cùng quê tìm lại được nhau sau mấy năm xa cách vì đất nước bị cắt chia. Vốn là bạn học từ nhỏ  nhưng  năm 1954, Thu Bồn theo đơn vị  tập kết ra Bắc. Chị Thu ở lại tiếp tục hoạt động. Chị  bị bắt vì tham gia biểu tình.

Thấy không thể sống ở quê, chị phải tránh vào Sài Gòn, móc nối hoạt động trong đội Biệt động của thành phố. Còn Thu Bồn năm 1955 tập kết ra Bắc, lần lượt học Trường Sĩ quan Lục quân,  Đại học Sư phạm,  Trường Tuyên huấn - Báo chí. Năm 1960, anh thuộc lớp văn nghệ sĩ đầu tiên trở lại chiến trường, cùng đi với Nguyễn Chí Trung, Thanh Giang… vào Tiểu ban Văn nghệ của Quân khu V.

Nhà thơ Thu Bồn.
Nhà thơ Thu Bồn.

Trong một dịp về vùng giáp ranh công tác, Thu Bồn đưa một tấm ảnh nhỏ có hình một cô gái nhờ Nguyên Ngọc hỏi thăm tin tức. Sau 1954,  đã có quá nhiều biến động, mãi mấy năm sau mới có một người quen chỉ cho nơi ở của bà mẹ cô gái trong ảnh.

Nhờ đó mà Thu Bồn biết địa chỉ chị Thu ở Sài Gòn. Nhiều phen thư từ đi lại, chẳng dễ dàng gì, nhưng cuối cùng họ đã nhận ra là không thể thiếu nhau. Nể tình tác giả “Bài ca chim Chơrao”, đích thân Bí thư Khu ủy Võ Chí Công phải liên hệ với Thành ủy Sài Gòn xin cho chị Thu về Khu V công tác, rồi lo đám cưới cho hai người.

Mọi chuẩn bị về vật chất như gạo thịt, gà, bánh kẹo mua từ vùng giáp ranh đã xong, nhưng lễ cưới sắp bắt đầu thì một trận bom tơi bời làm tanh bành tất cả. Căn cứ lập tức di chuyển. Một tuần sau trở về, thủ trưởng cơ quan tuyên bố coi như đám cưới đã tổ chức xong, cho hai người về ở với nhau. Những năm đó, rừng Khu V đã bị rải chất độc diệt cỏ.

Lính tráng uống nước suối đổi màu mà không biết hậu họa. Thu Bồn nằm trong số những người lính không may đó. Hà Thảo Nguyên, con đầu lòng của Thu Bồn và chị Thu bị bệnh máu trắng mất năm 16 tuổi… Năm 1969, chị Thu có bầu cháu thứ 2, Thu Bồn lại bị thương, cả hai được ra Bắc. Chưa ra đến cửa rừng thì chị Thu sinh cháu ở làng Ho, Tây Quảng Bình, đặt tên là Hà Băng Ngàn. Do ảnh hưởng chất độc da cam, nay gần 50 tuổi, Hà Băng Ngàn vẫn không có khả năng học tập và làm việc.

Có lẽ, không có thời nào, không có một đất nước nào như ở nước ta, bao nhiêu tình yêu đẹp đẽ lại sản sinh ra những sinh linh không hoàn chỉnh. Đó là hàng vạn con người dị dạng muôn vẻ vì ảnh hưởng chất độc da cam do chiến tranh.

Nhà thơ Liên Nam khi ra Bắc cũng có một người con bị bại não. Có nhiều lý do khi một cuộc tình bắt đầu rất đẹp, đã không duy trì được bền lâu sau chiến tranh. Những người con bị chất độc da cam cũng là một ám ảnh nặng nề. Sau này tan vỡ với chị Thanh Thu, dẫu có yêu và lập gia đình vài lần, nhưng nỗi ám ảnh và mặc cảm đó làm cho Thu Bồn sợ cả việc có con.

Ngoài 10 Trường ca, 10 tiểu thuyết, Thu Bồn còn các tập thơ; “Tre xanh” (1969), “Mặt đất không quên” (1970), “Một trăm bài thơ tình nhờ em đặt tên” (1992), “Tôi nhớ mưa nguồn” (1999), “Đánh đu cùng dâu bể” (2001). Có khá nhiều mỹ nhân từng là nguồn cảm hứng  cho Thu Bồn làm nên những bài thơ tình tha thiết.

Cũng có nhiều giai thoại xung quanh từng bài thơ, đều là do bạn bè thân thiết kể lại, nhưng là những người nhiều khả năng tưởng tượng, nên không phải ai cũng nói đúng sự thật. Mà sự thật trong tình cảm, cũng như trong thơ là những điều không phải bao giờ cũng rạch ròi. “Tạm biệt Huế” là một trong số đó.

Như một cơ duyên. Tháng 5 này trở lại Huế, nhà văn Tô Nhuận Vĩ nhắn tôi phải nhất thiết gặp một người, giờ là Việt kiều vừa ở Pháp về. Chị chính là nữ nhiếp ảnh Minh Châu, 35 năm trước chị là nguồn cảm hứng để Thu Bồn làm bài “Tạm biệt Huế”.

Hơn hai kiếp lưu lạc của nàng Kiều, rời Huế vô Sài Gòn, lấy chồng ở Đà Lạt, chồng mất đột ngột, một mình nuôi hai con, giờ đều đã trưởng thành trên đất Pháp. Mấy năm gần đây, mỗi năm về Huế mấy tháng để săn sóc mẹ già đã 95 tuổi. Đó cũng là thời gian chị cùng chồng mới là một cựu Đại tá quân đội Pháp dạy tiếng Pháp miễn phí cho một số học sinh, sinh viên, như một việc thiện nguyện ở Việt Nam.

Có lần nhà cháy, nhiều khi trắng tay, vậy mà buổi trưa gặp nhau ở một quán nhỏ ở Huế, có sự chứng kiến của nhà văn Tô Nhuận Vĩ và mấy bạn bè văn nghệ, người ấy quyết định chuyển cho tôi tờ giấy nhỏ, mực phai, giấy rách, nhưng còn nguyên vẹn bài thơ xưa Thu Bồn đã chép tặng mình. Bài thơ  có tên:  “Bởi vì em”.

Nữ nhiếp ảnh gia Minh Châu (giữa) với bạn văn nghệ ở Huế.
Nữ nhiếp ảnh gia Minh Châu (giữa) với bạn văn nghệ ở Huế.

Tặng Minh Châu và Huế cùng những ai yêu Huế. 8-1983”. So với bài  “Tạm biệt Huế”  được công bố sau này, tác giả có sửa chữa và biên tập lại từ nguyên tác bài “Bởi vì em” cho dễ in hơn. Bài thơ được hoàn thành trong đêm 6-8-1983, một đêm không ngủ.

Đó là thời gian Thu Bồn cùng mấy người bạn về Huế. Hội Văn nghệ Huế cử một nghệ sĩ nhiếp ảnh dẫn các văn nghệ sĩ đi tham quan các di tích và chụp ảnh. Minh Châu khi ấy mới ngoài 20, gương mặt rạng rỡ, nụ cười thần tiên, đôi mắt luôn biết nhìn thấu lòng người, và một vóc dáng cao lớn xinh đẹp. Một người say cái đẹp và hoạt khẩu như Thu Bồn đã không bỏ lỡ cơ hội để được trò chuyện và tiếp cận nữ nhiếp ảnh trẻ trung, hấp dẫn. Họ có ba ngày “say sóng” bên nhau, khi đi tham quan các lăng tẩm, đền đài của Huế, thù tạc cùng các bạn văn nghệ sĩ xứ Huế.

Buổi sáng chia tay, Thu Bồn trao cho Minh Châu bài thơ làm sau một đêm không ngủ. Mười năm sau, Thu Bồn có dịp trở lại thăm Huế, rất nhiều hướng dẫn viên du lịch đã đọc cho khách tham quan nghe bài thơ như một cách giới thiệu những vẻ đẹp của Huế. Nhưng bóng dáng người xưa đã biệt tích. Trong bản thơ viết tay tặng Minh Châu có những câu như một lời tiên tri: “Xin chào Huế một lần anh đến / Để ngàn lần anh nhớ hư vô /  Em rất thực nắng thì mờ ảo / Xin đừng nhầm em với Cố đô / Tạm biệt Huế với Châu là vĩnh biệt / Hải Vân ơi xin Người đừng tắt ngọn sao khuya / Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng /Anh trở về hóa đá phía bên kia”.

Dẫu đã 15 năm tác giả yên nghỉ trong nấm mộ đá hoa cương có rất nhiều kỷ vật bạn bè tứ xứ gửi theo trong nghĩa trang thành phố Hồ Chí Minh, nhưng bài thơ  “Bởi vì em - Tạm biệt Huế”  vẫn hiện diện trong lòng những người yêu thơ, yêu Huế.

Sau khi được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, gia đình và bạn bè nhà thơ Thu Bồn đều mong ước ở trường học nơi quê nhà Điện Thắng có một phòng lưu niệm những di vật và tác phẩm của Thu Bồn - nhà thơ lớn của quê hương.

         Hà Nội 10-6-2018

BỞI VÌ EM

Tặng Minh Châu và Huế cùng những ai yêu Huế

Bởi vì em dẫn anh lên những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu
Những lăng tẩm như hoàng hôn chống lại ngày
                                                       quên lãng
Mặt trời vàng và mắt em nâu

Xin chào Huế một lần anh đến
Để ngàn lần anh nhớ hư vô
Em rất thực nắng thì mờ ảo
Xin đừng nhầm em với Cố đô

Tạm biệt Huế với Châu là vĩnh biệt
Hải Vân ơi xin Người đừng tắt ngọn sao khuya
Tạm biệt Huế với chiếc hôn thầm lặng
Anh trở về hóa đá phía bên kia

Anh chẳng phải người đi niệm Phật
Lần đầu ăn bữa cơm chay
Rau quả Kim Long, đậu tương Hoài Đức
Môi anh gần giống vị ớt cay             

Nhịp cầu cong và tà áo lụa
Một đời anh đi mãi chẳng về đâu
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Con sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

Áo trắng hỡi anh tìm em đâu thấy
Nắng minh mang mấy nhịp Trường Tiền
Nón rất Huế mà đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng

Đêm 6-8-83
Một đêm không ngủ.

(Ký tên) THU BỒN
Ngô Thảo

Các tin khác

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.