Chao liệng cánh diều khát vọng...!

Truyền thuyết về cái diều kể một người nông dân ngồi nghỉ, gió thổi mạnh làm bay cả chiếc mũ rơm. Anh bèn lấy sợi dây buộc một đầu vào mũ, đầu kia vào gốc cây. Gió thổi đưa chiếc mũ lên cao, chao liệng… Đó là mô hình sơ khai đầu tiên của cái diều.

Theo sử sách Trung Quốc, diều có ở nước họ vào thời Xuân Thu (cách nay hơn 2.000 năm), người sáng chế là Lỗ Ban, làm diều bằng gỗ, bằng trúc. Đến thời nhà Hán, diều được làm bằng giấy, được gọi là "chỉ diên" (hình chim diều hâu). Nhưng theo những công bố của các Hiệp hội Diều trên thế giới thì chiếc diều đầu tiên xuất hiện cách đây hơn 3.000 năm được làm từ lá cây. Đến nay chiếc diều được công nhận có vận tốc nhanh nhất đạt mức 193km/h. Diều có diện tích lớn nhất là 630m2. Thời lượng lâu nhất của chiếc diều bay lượn là 180 giờ…

image001.jpg -0
Chiếc diều truyền thống làng Bá Dương Nội (Hà Nội).

Theo thời gian, dần dần diều "bay" vào đời sống, thành phong tục thả diều. Nhưng buổi đầu, diều không là thú chơi mà dùng vào nghi lễ, ma thuật. Vào tết Thanh Minh, sau khi làm lễ cúng bái tổ tiên, người dân mang diều (đã được ghi/vẽ những điều xúi, những loại bệnh… trên thân diều) ra thả với mục đích xua đuổi tà khí và những điều rủi ro, xúi quẩy. Khi diều ở độ cao nhất sẽ cắt dây cho diều bay mang đi những điều chẳng may… Thế là từ đó, cũng hình thành quan niệm (đến nay ở ta vẫn còn) diều đứt dây rơi vào nhà ai sẽ mang lại điều không may, nên thường đem đốt đi… Diều còn được coi là vật nối con người với thần thánh trên trời, trong những đêm trăng sáng, trước khi thả diều người ta làm lễ cầu mong những điều tốt lành…

Về sau, nghề giấy phát triển thì diều phổ biến hơn, được sử dụng vào nhiều mục đích, có cả quân sự. Trong sách "Hán Sở tranh hùng" kể, tướng quân Trương Lương nhà Hán dùng diều gắn sáo trúc thả lên trời, sáo véo von điệu khúc quê hương nước Sở để khơi gợi, kích động lòng nhớ nhà, khiến quân Sở rệu rã, mất ý chí mà thua. Đến thời nhà Tống, diều trở thành trò chơi phổ biến của trẻ con. Vào thời Minh - Thanh, hình tượng diều đi vào nghệ thuật, nhiều hơn trong hội họa tạo hình. Có danh họa Từ Vị (1521-1593) chuyên vẽ diều, còn để lại 30 bức giá trị.

Ở ta có truyền thuyết núi Cánh Diều (Ninh Bình) kể, khi sang Giao Châu, thấy long mạch nước Nam rất vượng, sẽ phát đế vương, Cao Biền (821 - 887) bèn mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy xem địa thế tìm cách trấn yểm. Một lần bay đến Hoa Lư thì bị dân chúng dùng tên bắn. Diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó núi mang tên Cánh Diều. Lý giải tên một địa danh nhưng câu chuyện còn là niềm tự hào về cơ ngơi đất nước vẻ vang, hùng mạnh. Còn cho thấy thời đó ở ta diều cũng đã có trong sinh hoạt cộng đồng.

Là vật thể bay trong không gian, diều đòi hỏi sự tạo hình theo nguyên lý thăng bằng và vận dụng nguyên lý động lực học để không chỉ bay cao mà còn tạo ra những đường chao lượn đẹp mắt. Do đó khung diều phải cứng, nhẹ, lại có thể mềm mại để đàn hồi…  Diều được thả bởi một hoặc hai người, nhiều người (nếu diều to). Thường một người cầm diều đứng ngược chiều gió, hướng mũi diều chếch khoảng 45 độ, một người cầm cuộn dây. Gặp gió người thả cầm diều phóng lên, người cầm dây giật nhẹ, chạy lùi rồi thả dây... Ở nhà quê thời trước, với trẻ em, nhất là trẻ chăn trâu, chơi diều đến quên ăn, quên học, quên cả trâu… Lại còn thi diều, thi sáo… Mỗi khi diều đứt dây thì náo loạn cả lên. Sợ mất diều thì ít, sợ diều rơi vào nhà người ta thì nhiều. Mất đồ chơi, đã đành, còn bị mách cha mẹ, mách cả nhà trường…

Ở nước ta chơi diều là một phong tục thanh tao mà dân dã, ai cũng có thể chơi, dễ tìm không gian để chơi nên phổ biến ở miền đồng bằng Bắc Bộ. Nhưng nổi tiếng nhất phải kể đến Hội diều làng Bá Dương Nội (xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội), được đưa vào danh mục "Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia". Làng còn có cả hệ thống tín ngưỡng, truyền thuyết, đền thờ, lễ hội gắn với cánh diều.

Dã sử của làng kể, thời trời đất, âm dương còn giao hòa, người và tiên ở cùng nhau. Nhưng rồi một ngày nọ, trời và đất bị chia cắt. Bầu trời cứ cao lên mãi. Không gặp được tiên, người bèn nghĩ ra làm cánh diều để nối trời với đất, cũng là nối tiên với người. Thế nên diều phải mang theo tiếng sáo nói hộ tấm lòng của người trần với cõi trên.

Một truyền thuyết đầy thi vị, "thơ hóa" tập quán chơi diều, đẩy cánh diều từ nơi phàm trần bay lên cõi tiên cao sang. Thần tích của làng còn giữ văn bản do Hàn lâm Đại học sĩ Nguyễn Bính soạn năm 1572 tả lễ hội thả diều của làng (vào ngày Rằm tháng ba) tưởng nhớ Nguyễn Cả, vị tướng giỏi giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân... Thắng giặc trở về, Nguyễn Cả mở hội khao quân, có trò thả diều. Phần "lễ" được tổ chức ở Miếu Diều (thờ thần Diều). Mở đầu phần "hội" là lễ rước bánh dày sau đó là thi thả diều ở ngay trước cửa miếu.

image003.jpg -1
Một lễ hội thả diều ở Nhật Bản.

Ngoài Đan Phượng (Hà Nội), còn có ở Bắc Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Huế, Hội An… có phong tục chơi diều. Ngày nay có rất nhiều kiểu dáng mẫu mã, to nhỏ, màu sắc khác nhau nhưng phổ biến là mẫu diều truyền thống của Việt Nam có hình con thuyền, hai đầu cánh cong vút như mái đao đình chùa. Theo các nghệ nhân, diều truyền thống đeo sáo thường dài hơn 2 mét, rộng hơn 0,5m. Khung diều làm bằng tre đực già, phơi nắng cho khô, khung diều dẻo, vót thật tròn, nhẵn. Cánh diều được "phất" (dán) bằng vải lụa mềm, bền, dai, chắc và nhẹ. Keo dán là quả cậy giã mịn đun lên cho chảy thành nhựa…

Sáo diều cũng nhiều loại: sáo chim tiếng kêu nhẹ, có lúc rít lên như tiếng còi; sáo còi như sáo chim nhưng to hơn; sáo đẩu kêu vo ve từng tiếng, ngân vang; sáo cồng kêu to như hồi cồng. Thân sáo làm từ những cây tre già đã chết khô, bên trong ống có kiến làm tổ càng tốt (độ sần sùi tạo ra sự phản xạ âm thanh). Miệng sáo được làm bằng gỗ mít già trên 30 năm (đủ dai, rắn, không nứt). Âm thanh của một bộ sáo "chuẩn" phải có âm của tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng ốc. Nguyên lý của "hợp âm" là "mẹ gọi con đáp", tiếng to nhất (mẹ) vang lên thì những âm sáo nhỏ (con) cùng hô ứng vang theo.

Đến nay "kỷ lục" ghi nhận chiếc diều của làng Đại Trà (Hải Phòng) có "Bộ sáo ầm có nhiều sáo nhất Việt Nam". Chiếc diều này sải cánh dài 7,2m, rộng 4,4m, có 13 cây sáo (nặng 7kg). Khi diều bay, ở xa hàng chục cây số vẫn nghe thấy tiếng sáo. Theo các nghệ nhân, hợp âm của bộ sáo này được xếp từ to đến nhỏ (Ầm, ì, bi, bu, bô, xô, do, de, dí, dị, dì, di), gọi là "sáo đàn", "mẹ gọi các con thưa"… Rất kỳ công và cũng rất thú vị…

Những cánh diều bay nhiều hơn ở bầu trời văn hóa châu Á. Ngày nay Nhật Bản có cả "Hiệp hội thả diều Nhật Bản" thường tổ chức chơi diều vào dịp Tết cổ truyền mừng xuân mới trong tiết trời ấm áp. Ở Thái Lan, thả diều là một bộ môn thể thao, được coi là một di sản văn hóa. Diều Thái Lan được phân loại theo "giới tính": đực (Chula); cái (Pakpao) được tổ chức thành lễ hội với đặc trưng là diều đuổi bắt nhau. Lạ mắt và vui nhộn. Ở Malaysia, diều truyền thống nổi tiếng nhất là "Wau Bulan" (diều mặt trăng) khung tre "phất giấy", trang trí bằng các họa tiết hoa, lá rực rỡ. "Wau Bulan" được coi là một biểu tượng văn hóa, là logo của hãng Hàng không Malaysia Airlines…

Bay lượn ở nhiều lớp thời gian và không gian khác nhau nhưng các cánh diều đều gặp nhau ở "hằng số" văn hóa mang tính hai chiều: bay lên thật cao những ước mong, những khát khao may mắn, tốt lành; đem đi thật xa những cái xấu, cái rủi, cái không may... Ngày xưa là "sứ giả" của con người với cõi tiên, ngày nay diều là sứ giả của con người đến với con người. Các dịp lễ hội thả diều trên thế giới, bạn bè đều thích thú, chiêm ngưỡng cánh diều Việt Nam bay lên chao lượn cùng bạn bè thể hiện một thông điệp chung con người hài hòa, gắn bó với thiên nhiên, cùng nhau bảo vệ môi trường, giữ gìn hòa bình, giữ gìn, phát triển truyền thống văn hóa…

Là một hình tượng nghệ thuật, tất nhiên diều cất cánh bay vào không gian âm nhạc: "Quê hương là con diều biếc/ Tuổi thơ con thả trên đồng" (thơ Đỗ Trung Quân). Thi vị, trữ tình nhiều hơn cả là trong thơ: "Diều hay chiếc thuyền/ Trôi trên sông Ngân/ Cánh diều no gió/ Tiếng nó chơi vơi/ Diều là hạt cau/ Phơi trên nong trời" (Trần Đăng Khoa); "Tưởng chừng đã chạm vào mây/ Cánh diều là nốt nhạc dài chung chiêng" (Lê Minh Quốc); "Bé thầm mong ước/ Được như cánh diều/ Bay vào vũ trụ/ Khám phá bao điều" (Nguyễn Lãm Thắng)… Là một "hiện thực hóa" của những khát khao, ước vọng, thế nên diều sẽ bay mãi, bay mãi… 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.