Chàng ngư phủ Kù Kao Khải: Mải mê kể chuyện quê mình

Trong số các tác giả điêu khắc thế hệ thứ 3, Kù Kao Khải khác lạ như nhành lúa còn sót lại sau vụ gặt giữa ngôi làng ven biển yên bình. Mới gặp, ai cũng có cảm giác Khải có tướng mạo khá “dữ dằn”... cái vóc dáng của Khải đi đường khối kẻ e ngại, nhưng khi chuyện trò, đã quen thuộc thì đều thấy đó là một người hiền lành, mộc mạc... như một ngư phủ thục thụ. 

Với Khải, những lúc rảnh rỗi ngao du trong rừng ngập mặn, hay thong thả trên bãi cát ven biển là lúc những ý tưởng sáng tạo được nảy sinh. Những trải nghiệm thơ ấu, theo chân cha đi biển, cùng mẹ cấy lúa đã dần dần tích lại trong sâu thẳm chàng trai “quê” này một “lẫm” đầy chặt những vốn sống, những xúc cảm đủ để thỏa mãn những ý tưởng sáng tạo của anh trên suốt con đường nghệ thuật của mình.

Kù Kao Khải kể lại: "Sau khi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Nhạc họa Trung ương (năm 2001), mấy năm bươn chải với những thực tế khắc nghiệt, cho dù tôi đã từng là người thiết kế mỹ thuật cho lò gốm nổi tiếng của nghệ nhân Trần Độ, nhưng vẫn là cảnh “ráo mồ hôi là hết tiền”. Cảnh cơm hàng cháo chợ ở nơi phồn hoa chỉ làm thui chột những hoài bão sáng tạo mà anh luôn ấp ủ trong lòng tôi. Những câu thơ ở đâu đó mà tôi chỉ nhớ đôi câu:

“...Thôi ta về lại bến quê.
Khói thơm mái lá bờ tre rì rào.
 Bỏ đi những nỗi khát khao.
Quay lưng với chốn cồn cào bon chen...”

Những câu thơ này đã giúp tôi thức tỉnh… và cả  tình  yêu thuở học trò  nữa, như một phép mầu giúp tôi thoát khỏi cái vòng mưu sinh nơi phố thị để về quê, về với biển...”. Về quê, ở nơi mặn mòi vị biển đó, Khải  có một  miếng  đất  gần một  “mẫu” đất, với một xưởng vẽ rộng rãi, cây xanh rợp mắt. Về quê, Khải đi dạy học rồi lấy vợ, sinh con  như bao người quê khác, rồi Khải theo học tiếp Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (tốt nghiệp năm 2008).

Tưởng rằng Khải sẽ theo nếp quê cứ lẳng lặng mà sống, nhưng ký ức của một tuổi thơ oằn lưng kéo lưới trong trái tim Khải lại dâng trào mỗi lần vác lưới ra khơi.  Và nó như tự “chuyển hóa” từ trái tim xuống đôi tay nghệ sĩ… Những đàn cá tràn lên mặt toan, những con tôm bật sóng như còn hơi thở gấp gáp qua nét vẽ của anh. Còn nữa, trên mặt toan Kù Kao Khải dụ những đàn chim trở về tránh rét, trải lên những cánh rừng ngăn mặn xanh tươi… Mười năm trở lại làm người quê, mười năm trở lại sống với người quê Khải đã trải nghiệm, đã hun đúc, đã lọc đãi để cho ra đời những tác phẩm của chính anh.

Từ “Câu chuyện quê” đầu tiên mà Khải  kể là tác phẩm “Động vật ở biển” tại Festival Huế năm 2011 - gồm những cụm sắp đặt vừa được đục, đẽo bằng gỗ, hoặc chắp ghép vật liệu tận dụng bất kỳ và có sơn màu  tạo ấn tượng thị giác.

Ở tác phẩm này, anh  kể những câu chuyện quê giản dị thôi, loanh quanh tôm cá cua ốc, hay người đi biển, nghề làm cói… Rồi những mùa sau đó, Khải như người say chuyện… anh liên miên kể hết chuyện nọ tới chuyện kia của quê mình, nào là “Cá biển”, “Được mùa ngao”, “Mèo và cá”, “Giỏ cua”, “Đọc báo trên đảo”, “Con bướm”…

Những câu chuyện của Khải quê kiểng nhưng lại thật có duyên và lạ lẫm… Khải liên tục đoạt những giải thưởng danh giá. Nào là giải chính thức (Nhất đồng hạng) Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2013, giải Nhì (không có giải Nhất) Điêu khắc toàn quốc 10 năm (năm 2013), giải chính thức (Nhất đồng hạng) Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2014, Huy chương Đồng triển lãm Mỹ thuật Việt Nam năm 2015, giải Nhất giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2017 và ngay mới đây thôi, ngày 13-8-2019,  Khải lại được trao giải Nhì giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam năm 2019 với tác phẩm “Đám cưới chuột”.

 Sự thành công ở những tác phẩm của Khải có thể nhìn thấy đó là một lối đi độc đáo và riêng biệt của anh. Khải không đi theo lối truyền thống thuần túy như thường thấy, anh ảnh hưởng tinh thần của Điêu khắc dân gian truyền thống, nhưng ngôn ngữ nghệ thuật thì thật hiện đại. Sáng tác của Khải có những thông điệp giản dị, không hề trừu tượng. Những tác phẩm của anh thật khó đặt vào thể loại mỹ thuật thường gọi nào… Gần gần điêu khắc, gần gần sắp đặt, có cả hội họa…

Thô tháp, xù xì và góc cạnh, đó là những ấn tượng đầu tiên khi xem các tác phẩm của Khải. Nhưng đứng lâu hơn, nghĩ sâu hơn thì bỗng nhiên đâu đó những nét đẹp  bất chợt hiện ra, tỏa sáng  như mời gọi người xem - phần nào giống thứ rượu Kim Sơn đặc sản quê anh, nồng đậm, thấm say. Đó chính là ngôn ngữ nghệ thuật của sự lãng mạn tượng trưng trong các tác phẩm của Khải.

Tác phẩm “Đám cưới chuột” - Giải nhì Hội Mỹ thuật Việt Nam 2019 của họa sĩ Kù Kao Khải.
Tác phẩm “Đám cưới chuột” - Giải nhì Hội Mỹ thuật Việt Nam 2019 của họa sĩ Kù Kao Khải.

Khải tâm sự: “Chất liệu của mình lấy từ những đồ vật thân thuộc hằng ngày, bản thân chất liệu cũng gắn liền với chính câu chuyện mà nó kể. Sự truyền tải của nó trực quan và nội dung cũng rất gần gũi với cuộc sống. Người ta thấy được cái giá trị của nó khi nhìn thấy chứ không mơ hồ. Tôi mãn nguyện khi được kể câu chuyện của mình. Lúc ấy, tôi đã thực sự loại bỏ trong đầu ý nghĩ về những chất liệu truyền thống. Tôi muốn đem lại một cái nhìn khác về hội họa cho công chúng, chứ không chỉ trên giấy, trên các chất liệu quen thuộc”.

Người Phương Tây dùng từ “culture” để chỉ văn hóa - nó bắt nguồn từ chữ La tinh là “cultura” có nghĩa là vun trồng. Ta có thể hiểu vun trồng tinh thần chính là văn hóa.Với người Việt, từ khởi thủy thì làng là một không gian văn hóa, là một cộng đồng văn hóa chặt chẽ. Với nghệ thuật của Khải, thì văn hóa làng chính là sự tiếp dẫn trực tiếp cho nội lực sáng tạo của anh.

Vùng quê  Kim Sơn của Khải  là vùng đất mới, vùng đất của những người dân khao khát an bình, được doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ khai sinh ra từ hơn 2 thế kỷ trước. Đây là trung tâm của giáo xứ Phát Diệm. 7 xã vùng ven biển và biển đảo Kim Sơn với những giá trị đa dạng sinh học nổi bật toàn cầu đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Kim Sơn còn nổi tiếng với hơn 20 làng nghề cói mỹ nghệ truyền thống, người dân ở đây vừa trồng lúa, trồng cói, vừa đi biển, nuôi trồng thủy hải sản. Bởi vậy mà đất mẹ Kim Sơn mang trong mình trữ lượng văn hóa dân gian vô tận, nó là nguồn sinh dưỡng “vun trồng” cho tình yêu nghệ thuật của Khải, để Khải vẫn mải mê mà kể những câu chuyện quê mình.

Tô Chiêm

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.