“Cây ngôn ngữ ra hoa" và một người thơ ra đi từ tuyến lửa

Bạn đọc xin đừng vội hỏi “Cây ngôn ngữ là cây gì vậy?”. Vườn nhà tôi ở Sóc Sơn trồng hàng trăm loài cây, nhưng không có “Cây ngôn ngữ”, nên thú thực tôi cũng không biết là cây gì hiểu theo nghĩa đen của từ này. “Cây ngôn ngữ ra hoa” (Nhà xuất bản Văn học - 2020) tôi muốn nói ở đây chính là tập thơ chọn lọc của nhà thơ Lê Thị Mây mà tôi vừa nhận được.

Tập “Cây ngôn ngữ ra hoa” dày 526 trang ghi là  “Thơ chọn lọc”. Nhưng, trong bài viết này, tôi không viết riêng về tập thơ, tôi viết về một đời thơ, của một người thơ ra đi từ tuyến lửa - Lê Thị Mây.

Trước đó không lâu, tôi cũng nhận được tập thơ “Cánh đồng thức” của Lê Thị Mây dày 435 trang do Nhà xuất bản Văn Học in. Hằng tuần, hằng tháng, hằng năm tôi đều nhận được nhiều tập thơ của nhiều người làm thơ gửi tặng và tôi đều đọc hết. Nhưng, thú thực tôi phải mất mấy tháng trời mới đọc hết gần một nghìn trang thơ của hai tập thơ Lê Thị Mây gửi tặng. Có lẽ vì tôi yêu thơ, quý trọng những người làm thơ lao tâm khổ tứ vì thơ nên kiên trì đọc hết cả ngàn trang thơ.

Một số tác phẩm của nhà thơ Lê Thị Mây.
Một số tác phẩm của nhà thơ Lê Thị Mây.

Mười mấy năm nay tôi không gặp Lê Thị Mây, cũng không có liên hệ gì kể cả qua facebook, nên không biết bây giờ nhà thơ ở Hà Nội hay ở Huế. Hôm vừa rồi Đại hội nhà văn các cơ quan TƯ, tôi mới gặp Lê Thị Mây. Sau đó mấy hôm, tôi nhận được 3 tập nữa cả thơ và trường ca của nhà thơ Lê Thị Mây dày gần 2000 trang in, tôi phải nhờ con trai bê lên tầng hai vì nặng...

Dạo tôi còn là Tổng biên tập Báo Tiền Phong, thường đi giao ban báo chí hằng tuần ở ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương. Thoảng hoặc có gặp Lê Thị Mây và lúc nào cũng thấy Lê Thị Mây nở một nụ cười rất hiền. Giờ đọc tên những tác phẩm đã xuất bản của nhà thơ Lê Thị Mây in ở bìa bốn các tập thơ mà tôi có, mới biết sức lao động của nhà thơ cũng ghê gớm: 8 tập thơ; 3 tập trường ca; 8 tập văn xuôi.

“Cuối ngày/ Ngả lưng/ Nửa đêm/ Gác tay lên trán/ Tóc bạc/
May còn chữ/ Tưởng nhuộm xanh được tóc...”
(Cuối ngày)

Đọc những dòng này tôi mới hiểu vì sao nhà thơ Lê Thị Mây lại đặt tên tập thơ chọn lọc của mình là  “Cây ngôn ngữ ra hoa”. Có lẽ nhà văn, nhà thơ nào cũng mong muốn những gì mình viết ra sẽ đơm hoa kết trái cho đời; sẽ để lại dấu ấn trong tâm hồn đọc giả và cho hậu thế?! Đó phải chăng là niềm an ủi lớn nhất của người viết khi phải lao tâm khổ tứ suốt cả cuộc đời, đến bạc cả tóc.

nhà thơ Lê Thị Mây
nhà thơ Lê Thị Mây

Tôi vừa đọc tập thơ “May” của nhà thơ Lê Quốc Hán và rất tâm đắc với thi sỹ họ Lê trong bài thơ “VỤN”: “Sách viết nghìn trang/ Mong còn/  Một chữ”. Còn MỘT CHỮ cũng là quý lắm rồi, bởi có biết bao nhà văn, nhà thơ sách in chất đống mà qua thời gian chẳng để lại chữ nào!

Mấy chục năm qua tôi đã thuộc lòng mấy câu thơ mà sau này mới biết là của nhà thơ Lê Thị Mây:

“Anh khoác ba lô về/ Đất trời dồn chặt lại/ Em tái nhợt niềm vui/ Như trăng mọc ban ngày...”.

Tôi thiển nghĩ, người làm thơ thật hạnh phúc khi có được những câu thơ như thế, những câu thơ mà độc giả như tôi thuộc lòng mấy chục năm qua. Như vậy “Cây ngôn ngữ” nhỏ bé này cũng đã trổ hoa trong tâm hồn người đọc.

 Lê Thị Mây sinh ra và lớn lên ở vùng quê, một thời ta gọi là TUYẾN LỬA. Tôi nghe nói Lê Thị Mây từng là thanh niên xung phong thời chiến tranh ác liệt. Đọc năm tập thơ của Lê Thị Mây mà tôi có trong tay ngồn ngộn những ký ức của một thời đạn bom khói lửa. Tôi cũng sinh ra và lớn lên ở tuyến lửa một thời nên đọc những dòng thơ của Lê Thị Mây, ký ức trong tôi thức dậy, hình ảnh mờ ảo trong tôi hiện rõ. Bài thơ “Chiếc nón đựng bom” thực sự gây ấn tưởng mạnh trong tôi:

“Bom ổi, bom bi lừa con trẻ hiếu kỳ/ Thửa mạ, vườn rau, giếng nước bom giấu mặt/ Nón mười sáu vành chị nhặt bom đầy ắp/ Ngực chị nghẹn đắng, môi khô rộp mùa thu...” (Trích tập thơ “Cánh Đồng Thức”). Những người trẻ tuổi sau này thật không thể hình dung có một thời như thế.

Tập thơ “Cây ngôn ngữ ra hoa”.
Tập thơ “Cây ngôn ngữ ra hoa”.

Bây giờ nhiều người làm thơ chắc không viết theo kiểu này, nhưng tôi vẫn thích những hình ảnh, âm thanh “Một ngày trên cánh đồng” của Lê Thị Mây: “Trống choai choai đập cánh/ Cún nhỏ gâu gâu ra đường/ Điếu sâu kèn nhả khói/ Gân sắc cánh tay vươn ngoài sương giá./ Tiếng rì rầm hỏi han vội vã/ Tiếng lích kích cày bừa/ Tiếng lùa trâu ra khỏi chuồng gọi nhau/ Lá cỏ mật rủ sương óng ả/ Ngọn gió ngủ quên trong lùm gai vươn hối hả/ Làm rung lưới nhện mê man...”. Bài thơ khá dài, âm thanh, hình ảnh ở một làng quê Việt Nam rất sống động. Người thơ đã sống ở vùng thôn dã này, sống hết mình, yêu hết mình, và cũng hết mình khi gửi gắm biết bao ký ức vào thơ ...

Mỗi nhà thơ đều có một vùng quê nuôi dưỡng tâm hồn mình và nuôi dưỡng thơ. Lê Thị Mây viết nhiều về vùng quê “Bình Trị Thiên khói lửa”. Trong bài thơ “Bình Trị Thiên” của Lê Thị Mây, tôi đã nhận ra một người thơ đúng chất của vùng đất thơ này: “Chỉ người thôi/ Âm thầm/ Xót đau/ Chịu đựng... Những dấu chân/ Cuộn sóng cỏ thu/ Đỏ lá cờ/ Máu người nuôi cỏ./ Chỉ người thôi/ Ân tình khúc ruột/ Ba mảnh hồn/ Sông/ Núi/  Miền Trung/ Máu chảy đỏ máu đỏ thấm vào thơ...”.

Tôi luôn tâm đắc với quan niệm về thơ của ông cha mình ngày xưa:  “Ý tại ngôn ngoại”. Thơ, tôi thiển nghĩ là những gì kết tinh trong tâm hồn nhà thơ được viết ra trong cảm xúc dâng trào. Thơ cần gợi và mở. Người đọc thơ bắt gặp những cảm xúc, ý tưởng mới mẻ, bất ngờ sau phía sau con chữ. Bởi vậy ông cha mình xưa kia không kể lể dài dòng trong thơ. Sau lời là ý, sau ý lại mở ra những ý nghĩa khác tùy theo sự hiểu biết của mỗi người. 

Nếu như trong văn xuôi, trong tiểu thuyết hay truyện ngắn, nhân vật điển hình trong những hoàn cảnh điển hình là cái đích của nhà văn nhắm đến thì trong thơ là tâm trạng điển hình được tái tạo trong những hình ảnh, cảm xúc điển hình. 

Nhà văn, nhà thơ cần sự sáng tạo chứ không phải sao chép hiện thực cuộc sống. Người đọc thơ cảm nhận được chứ không phải chỉ thấy những gì cuộc sống diễn ra hằng ngày. Tình hiện đại trong thơ không phải chỉ viết về những đề tài hiện đại mà là cách cảm, cách nghĩ, cách thể hiện mới mẻ, mang tâm trạng của thời cuộc mới.

Tôi thích những câu thơ như thế này của nhà thơ Lê Thị Mây:

“...Bài thơ lật từng đêm thức trắng/ Soi mảnh gương không huyệt mộ dưới sao khuya... (Mảnh gương); “...Con đường vượt qua giới hạn giấc mơ/ Ta đứng trước bao điều đã muộn...” (Giới hạn); “...Thoắt tóc bạc tuổi già/ Chữ đầy tay còn nguyên một nỗi.../ Người ra đi/ Chỉ thời gian ở lại...” (Từ hoa đến trái); “...Phẳng đến nỗi mắt người không trông thấy/ Những côn trùng đào đất đợi ăn sương/ Ngày ấy đến nhích dần trong sớm rước lễ...” (Bi ca ); “Âm thầm cái bóng dưới chân/ Ngàn dặm cuộc đời xê dịch/ Vấp ngã cùng đau trong lặng câm.../ ...Quên bóng nửa khuya, trốn tìm đâu/ Tìm trong tay áo, trong chăn chiếu/ Hay bóng vừa rơi không biết đau...” (Bóng dưới chân); “...Thời gian sắp đặt thổi hồn/ Khâu tấm áo choàng dạ hội/ Có thể tấm áo liệm xa hoa/ Người ra đi/ Chỉ thời gian ở lại”... (Từ hoa đến trái); “Sáu mươi bạn cũ thưa đi lại/ Bảy mươi đọc sách cầm chừng?/ Thêm mỗi tháng ngày đêm khó ngủ/ Cá đập đuôi nghe sóng khơi...” (Biến dịch)

Thơ Lê Thị Mây như tôi thiển nghĩ không lãng mạn, bay bổng, không làm người đọc dễ thuộc, dễ nhớ như nhiều người làm thơ cùng thế hệ. Lê Thị Mây viết về rất nhiều đề tài từ chiến tranh, bom đạn, được mất đến cuộc sống muôn mầu trong thời đại kỹ thuật số, thời của thế giới phẳng... Nhưng, tôi thích những bài thơ Lê Thị Mây viết về thân phận con người, viết về sự suy tư của chính bản thân mình với sự đằm sâu qua thời gian còn đọng lại.

Người làm thơ có lẽ ai cũng mong muốn và hy vọng “Cây ngôn ngữ” mà nhà thơ cả đời chăm bón, vun trồng sẽ đơm hoa kết trái cho đời, nhưng mấy ai có được may mắn đó!

Viết tại nhà vườn Sóc Sơn, 11/2020

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.