Cao Bá Quát - những thi liệu khác lạ!

Nói đến Cao Bá Quát người ta nghĩ về một mỹ học độc đáo: “Mười năm rong ruổi tìm gươm báu/ Một đời chỉ cúi lạy hoa mai”, là một tuyên ngôn nghệ thuật tiến bộ văn chương phải như kiếm sắc ngăn trừ cái xấu để cho đời chỉ còn những nụ hoa mai! Nhưng trong thơ ông còn có cả một thế giới những con vật, cao cả trừu tượng như rồng như phượng..., lại có cả những con kiến, con bọ ngựa, con ễnh ương... rất khác lạ so với mỹ học cổ điển. Điều ấy nói gì thêm về thi nhân vĩ đại này?

Giai thoại kể có lần Cao chửi vua (Tự Đức) bằng câu đối: “Bỉ viết cẩu, thử viết cẩu, bỉ thử diệc viết cẩu” (Bên này chó, bên kia chó, tất cả đều là chó). Vua căm lắm nhưng không có cớ nào khép tội. Từng làm quan nhưng lên xuống thất thường, từng vào tù ra tội bị đòn roi, bị đi đày... thuở hàn vi sống cùng “dân đen” nên Cao thấu hiểu tình cảnh cơ cực cũng như khát vọng cháy bỏng của những con người “dưới đáy”. 

Những điều ấy lý giải hành động Cao đứng dậy cùng “dân đen” khởi nghĩa chống lại triều đình rồi thất bại như là lẽ đương nhiên. Nhưng lịch sử khẳng định Cao là lãnh tụ khởi nghĩa dám chống lại bất công cường quyền phản động. 

Bài ca ngắn “Đi trên bãi cát”!
Bài ca ngắn “Đi trên bãi cát”!

Trong cấu trúc nhân cách một thi sĩ, trước hết phải là một tâm hồn nhạy cảm, giàu trắc ẩn. Cao là như vậy. Nhìn thấy “Chú bé chăn bọ ngựa” (tên một bài thơ), Cao thấy đau xót và liên tưởng đến thân phận người dân cũng như phận con bọ ngựa kia: “Buộc nó bằng sợi dây/ Sợi dây quấn chằng chịt/ Nó chết trên cành cây…/ Người dắt dân ta hỡi!/ Xét kĩ trên lông mày” (Hoàng Trung Thông dịch). 

Ở bài “Bệnh trung” Cao tự nhận mình là một “hủ nho”: “Là một hủ nho thân tàn mà chưa chết/ Cố gượng mang bộ xương mòn còn phải nhờ người nâng hộ/ Nép mình giữa khoảng trời đất, thương nỗi bàn tay cô đơn/ Ngoảnh nhìn con đường mây khói, chí cả chưa được vẫy vùng/ Biết bao giờ được trở về yên trong tổ như chim én/ Một ngày kia lại thẹn với đàn quạ xám đậu trong vườn tươi tốt/ Chú bé không hiểu cái bệnh Duy Ma của ta/ Cứ hỏi đai lưng có gầy đi nhiều không?” (bản dịch nghĩa). 

Cao mơ mình được là con chim én được trở về cái tổ ấm áp của mình. Nhưng tại sao lại “thẹn với đàn quạ”? Căn cứ nội dung và xuất xứ thì bài này Cao làm khi ở Huế (Viện Hàn lâm), thời gian Cao bệnh nhiều, cả thân bệnh và tâm bệnh mà tâm bệnh nhiều hơn.

Bài thơ giản dị, chỉ khó hiểu ở câu “Một ngày kia lại thẹn với đàn quạ xám đậu trong vườn tươi tốt”. “Đàn quạ” là biểu trưng cho kẻ xấu, cơ hội, tham lam. Tại sao lại thẹn với chúng? Đây là một ẩn dụ, có thể hiểu cả câu là một ngày kia (ta) lại thẹn với những kẻ cơ hội đang ở trong môi trường thuận lợi (vườn tươi tốt). 

Thì ra Cao tự xấu hổ với mình là chưa thể hiện được ý chí hoài bão để rồi có ngày lại thẹn với kẻ cơ hội đố kỵ, kèn cựa với mình. Cao đã nung nấu thật sâu sắc về thân phận kẻ sĩ, về trách nhiệm và bổn phận cá nhân. Cao đã mắc cái bệnh khó chữa vì thương chúng sinh như Vương Ma Cật (Duy Ma) nên người đời (chú bé) đâu có hiểu! 

Nhưng chúng ta thì thấy Cao vĩ đại ở khát vọng đem tài năng của mình phụng sự cuộc đời với mục đích tìm thái bình, ấm no cho dân lành. Thế nên dễ hiểu Cao phủ nhận mình, tiếc cho mình: “Đáng phàn nàn cho ta chỉ đóng cửa mà gọt rũa câu văn/ Lải nhải nhai lại từng câu từng chữ/ Khác nào con sâu đo muốn đo cả đất trời” (“Đề sau khúc Yên Đài anh ngữ của Đô sát họ Bùi”). 

Cao ví mình như con sâu, giễu mình chỉ biết nhai văn nhá chữ chẳng có gì ghê gớm mới mẻ thế mà lại có tham vọng quá lớn “muốn đo cả đất trời”. Phải bản lĩnh lắm, hiểu biết nhiều lắm mới có lối tự trào như vậy. Văn nhân thời hiện đại mấy ai dám tự nhận mình như thế!?

Cao tự ví mình như con chim ri bé nhỏ: “Cười cho tôi phận nhỏ như chim ri mà vẫn chưa yên tổ/ Đường làm quan (như giấc mơ) ít ai tỉnh sớm” (“Tiễn ông bạn họ Nguyễn về làng”). Ở câu sau Cao tự thanh minh cho mình: Bị mê hoặc bởi con đường làm quan nên ít ai tỉnh ngộ. Bản thân ta cũng chỉ tầm thường thế thôi!

Cao tự trào cả hoàn cảnh mình vừa đáng cười vừa đáng ái ngại qua đôi câu đối dán trước nhà thời dạy học ở Quốc Oai (giai thoại): “Nhà trống ba gian, một thầy, một cô, một chó cái/Học trò dăm đứa, nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”. Cái tự trào đau xót, đặt mình vào phận cũng chỉ như con chó cái mà thôi. Câu đối này có thể là của dân gian “họa” lại theo phong cách Cao. Âu cũng là sự quý mến nhà thơ mà “sáng tạo” ra vế đối ấy, nhưng qua đó cũng cho thấy tính hay tự cười mình của Cao về gia cảnh chẳng có gì là khá giả. 

Trong bài “Ngày Thanh minh họa thơ Trần Ngộ Hiên” rất rõ một tâm trạng phẫn uất, buồn phiền: “Việc đời dằng dặc mấy cuộc thịnh suy/ Thời tiết đến nhanh, đêm nay ai chẳng chạnh lòng?”. Cao làm bài này khi đang lênh đênh trên biển, nhìn thấy cái trập trùng mịt mù của biển khơi mà liên tưởng đến việc đời chìm nổi thịnh suy. Trong hoàn cảnh ấy thì buổi đêm đến càng thêm “chạnh lòng”. Mối sầu như nặng nề hơn: “Mối sầu kim cổ lẫn cả vào ngọn nước lên xuống”. 

Cao ngẫm mà cười chim tinh vệ, cười Ngu công uổng mình vào việc không đâu: “Chỉ tổ nhọc chim tinh vệ ôm hận mà tha đá/ Đáng cười Ngu công đã  già mà vẫn mải việc dời núi”. Thực ra là Cao cười mình cũng chỉ như chim tinh vệ và Ngu công mà thôi, cũng đang nhọc lòng mải theo đuổi những chuyện quan trường không đâu! Điều này chứng minh Cao khởi nghĩa không hề tự phát mà đã nung nấu từ lâu, như ở bài thơ này.

Với triều đình, khi đang làm quan, một lần qua tỉnh Quảng Trị, Cao phê phán thẳng thói ăn chơi xa hoa, nạn tham nhũng của lũ vua quan bóc lột: “Nghe đồn xe sáu rồng gần đây ghé qua chơi/ Ngoài hành cung Mỹ Xuyên lại có hành cung mới nữa” (“Qua tỉnh Quảng Trị”). “Xe sáu rồng” là xe không chỉ có vua mà còn chở nhiều quan đầu triều nữa. Dân thì chết đói mà triều đình lại còn xây thêm “hành cung mới”! 

Mượn hình ảnh con chuột nhà thơ lên án kẻ đục khoét lương dân thật độc ác: “Bao đau khổ cay đắng ta mới dựng nên nhà/ Bao vật dụng mới sắm sao không tiếc/ ...Ta cảnh báo bọn chuột chớ ăn vụng bừa bãi/ Vì hám lợi không phải chước lâu dài” (Phù hạ thử). Lũ chuột ấy chẳng qua cũng là lũ quan lại triều đình kia!

Hai câu thơ sau là sự tương phản hình ảnh để bật ra cái ý chí kẻ anh hùng: “Không nghe tiếng hạc ốm kêu ở đền cổ/ Vì đâu có con rồng bướng đang trỗi dậy ở nửa sườn non?/ Cũng nên vác sáo chơi chợ trời/ Cười hỏi các vùng trời còn mấy trùng xa?” (“Chùm thơ viết ở Sài Sơn”. Bài bốn). 

Cao thường tự nhận mình như con hạc ốm trong hang núi nhưng ở đây lại ví mình như con rồng bướng. Điển cố trong sách “Mão đình khách thoại” viết rồng bướng (quai long) không chịu làm mưa, Trời sai Thiên Lôi lùng bắt trị tội liền loè ra tia chớp khiến Thiên Lôi phải sợ. Phải chăng Trời quyền lực và Thiên Lôi tay sai hung hãn cũng như là vua và cái triều đình đen tối (nhà Nguyễn) ấy? 

Còn Cao muốn vác sáo lên chợ trời! Sách Phật viết ba cõi Phật có hai mươi tám vùng trời. Cao muốn lên đó thổi sáo chơi! Cũng chả cần biết còn mấy vùng trời bao xa nữa…! Câu thơ có phần “hư vô chủ nghĩa” nhưng lại nói được cái ngạo nghễ và khao khát tự do của chủ thể.

Đây là những hình ảnh đối lập về thân phận: “Đành rằng đây là chỗ chim hạc phải sống chung với gà” (“Ông Đoàn Tính lúc sắp lên đường nâng chén từ biệt…”). Đối lập kẻ đầy hoài bão và kẻ tầm thường: “Anh chẳng thấy chim hồng chim hộc bay tít tận mây xanh/ Chim hạc đen ngủ một mình bên sườn núi/ Những con chim vàng thì về chỗ kiếm ăn…” (“Bài ca làm trong tiệc rượu nhà Tuần phủ Đông Tác”). 

Cao khát khao được như con chim hồng chim hộc kia! Nên dễ hiểu, có lần Cao “hỏi” con ễnh ương, thực ra cũng là hỏi mình cái khẩn thiết một sự thay đổi xã hội: “Ễnh ương có biết vì dân không?/ Kêu vang nơi bụi rậm/ Ễnh ương sao mi kêu quá chậm/ Trông mưa đêm qua bao người hồi hộp chờ mong” (“Hỏi ễnh ương”). Người dân chờ một trận mưa, cũng là “mong chờ” sự thay thời đổi thế! 

Thì ra những con vật ấy, dù to lớn hay bé nhỏ là để nói tâm trạng, về lý tưởng hoài bão của Cao! Nhà thơ từng muốn lánh đời: “Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan, Khổng…”. Nhưng ý chí ấy thì đúng là: “Song nghĩ lại trần ai không đếch chỗ…”. Các chữ “tếch”, “đếch” suồng sã thông tục mới đúng là Cao, muốn suồng sã với mọi giáo lý cứng nhắc, với cả “trần ai”... để xoay lại đất trời!!!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan trên đất cố đô

Bảo tàng Nguyễn Tử Lan tọa lạc trên đường Đông Phương Hồng, phường Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, do Nhà nghiên cứu Lịch sử Văn hóa Nguyễn Tử Chương sáng lập từ năm 2020. Đó là một không gian nghiêm tĩnh, lưu giữ những tư liệu, kỷ vật thiêng liêng về cựu chiến binh - nhà giáo Nguyễn Tử Lan cùng đồng đội - những người đã tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ ngay từ những ngày đầu, và góp phần không nhỏ làm nên chiến thắng vĩ đại của dân tộc.

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.