Cao Bá Quát - Danh sĩ bất phùng thời

Cao Bá Quát (?- 1855) - xuất thân từ dòng họ Cao làng Phú Thị, Gia Lâm - “Dõi đời khoa bảng xuất thân/ Trăm năm lấy tiếng thanh cần làm bia” như lời Cao Bá Nhạ. Nhưng đến đời thân sinh Cao Bá Quát đã sa sút, gặp thời loạn lạc, cụ lấy nghiệp dạy học kiếm sống và hằng trông mong vào cặp con trai song sinh, đặt tên con theo những bậc thần tử nhà Chu (Đạt, Quát) để mong có ngày mở mặt sau này.

Ngay từ nhỏ, Cao Bá Quát đã nổi tiếng thần đồng, hay chữ, có tài ứng đối. Những giai thoại về Cao Bá Quát, người chiếm hai trong bốn bồ chữ của thiên hạ phần nào nói nên điều đó. Khi trưởng thành, danh tiếng ông càng vang xa, được tôn lên bậc “Thần Siêu, thánh Quát” hay “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán” là những minh chứng không cần bàn cãi về một nhà Nho tài tử tài hoa, lỗi lạc nhưng sinh bất phùng thời. Sự nghiệp thơ văn Cao Bá Quát vô cùng phong phú, đồ sộ nhưng trong khuôn khổ bài viết nhỏ này chúng tôi chỉ xin điểm lại mấy ý nhỏ liên quan đến nhận định mà nhan đề bài viết đề cập đến.

Cao Bá Quát - Danh sĩ bất phùng thời -0

Cao Bá Quát sinh ra và lớn lên trong bối cảnh chế độ phong kiến chuyên chế nhà Nguyễn đã ổn định, theo nhiều nhà nghiên cứu từng nhận định đó là nhà nước quan liêu, bảo thủ và hà khắc. Năm 1883, Cao Bá Quát đỗ Á nguyên trường thi Hà Nội nhưng vì bị hiềm khích, ông bị xếp xuống cuối bảng, sau đó nhiều lần vào Huế thi Hội nhưng không đỗ.

Khoa cử lận đận, hoạn lộ chẳng mấy hanh thông, mãi đến năm 1841, ông mới được quan tỉnh Bắc Ninh tiến cử, vua Tự Đức phong cho chức quan nhỏ “Hành tẩu Bộ Lễ” nhưng chỉ ít lâu sau vì chữa bài thi phạm quy nên ông bị bắt giam, sau đó được tha nhưng lại phải đi phục vụ đoàn công cán triều Nguyễn trong chuyến đi một số nước Đông Nam Á.

Năm 1844, Cao Bá Quát được phục chức ở Bộ Lễ một thời gian ngắn lại bị sa thải, ông phải về quê sống trong cảnh nghèo túng. Cũng trong thời gian làm quan ở Huế, Cao Bá Quát có dịp tham gia thi đàn Mạc Vân thi xã của các vị công khanh Miên Trinh, Miên Thẩm và có dịp xướng họa nhiều bài thơ cũng như viết tựa cho nhiều thi tập còn lưu lại đến nay. Năm 1847, ông được triệu vào kinh làm việc tại Viện Hàn lâm với công việc sưu tầm, hiệu đính thơ văn, nhưng với tính cách cương nghị, phóng khoáng có lẽ không phù hợp với công việc cũng như đồng liêu nên sau đó Tự Đức lại điều ông đi làm Giáo thụ Quốc Oai (Sơn Tây) xa xôi, hẻo lánh cho đến khi cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương diễn ra.

Chặng đường khoa cử, công danh đầy truân chuyên đó đã phần nào thể hiện trong thơ Cao Bá Quát, ngay trong những lần vào kinh thi Hội, qua những bãi cát dài miền Trung ông đã nhận ra công danh, khoa cử hết sức nhàm chán, vô nghĩa, bộc lộ sự bế tắc đường đời của một trí thức phong kiến, mặc dù chưa tìm ra một con đường lý tưởng nhưng Cao Bá Quát đã nhận thấy không thể tiếp tục đi mãi trên con đường mòn này: “Cát dài! Bãi cát dài!/ Một bước một thụt lùi/ Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ/ Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi!/ Không học được tiên ông phép ngủ/ Trèo non, lội suối, giận không nguôi/ Xưa nay phường danh lợi/ Bôn tẩu trên đường đời/ Gió thoảng hơi men trong quán rượu/ Say cả, hỏi tỉnh được mấy người?/ Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng/ Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng!/ Nghe ta ca "cùng đồ" một khúc!/ Phía Bắc núi Bắc, núi muôn lớp!/ Phía Nam núi Nam, sóng muôn đợt!/ Sao mình anh còn trơ lại trên bãi cát?” ( Bài ca ngắn đi trên bãi cát - Huệ Chi dịch).

Cao Bá Quát thuộc mẫu hình nhà Nho tài tử nên ngay từ nhỏ ông đã ý thức về tài năng của mình (thị tài), trong bài phú “Tài tử đa cùng” ông từng thổ lộ: “Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mặt trần toan đạp cửa phù đồ/ Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, giương tay Tạo rắp xoay cơn khí số”. Thế nhưng lớn lên gặp cảnh bất như ý ông đã sớm nhận ra mình sinh không đúng thời, một người có tài năng và bản lĩnh như ông không những không được triều đình nhà Nguyễn trọng dụng mà còn luôn bị đố kị, ghen ghét.

Tính khẳng khái, cương trực có phần ngông ngạo của ông khiến ông trở thành “cái gai” trong mắt Tự Đức, vua cùng các quan lại bảo thủ không thể trọng dụng ông, nhân mắc lỗi trong lần làm giám khảo trường thi ông lập tức bị bắt giam rồi bị cách chức, bị giam hãm, tra tấn đau đớn. Bài thơ “Hơn nhau cũng một chữ thì” của ông như lời tâm sự ngậm ngùi, cay đắng đó: “Hãy bền lòng, chớ chút oán vưu/ Thời chí hĩ, ngư long biến hóa/ Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả/ Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chi/ Hơn nhau cũng một chữ thì”.

Tuy nhiên, ngay những lúc đó Cao Bá Quát cũng không tỏ ra oán trách người mà cho rằng mình sinh không gặp thời, biết cùng - thông là mệnh. Ông xuất thân từ cửa Khổng sân Trình nhưng không có được cái hăm hở thi thố, lập công, lập danh như bậc đàn anh làm quan đương thời là Nguyễn Công Trứ - một người “Vào đời nghiêm trang như đức Trọng Ni, ra đời hiền vui như thầy Trang Tử” (Trần Ngọc Vương).

Sau bao cay đắng nhọc nhằn, buồn bã, thất vọng,  Cao Bá Quát gửi gắm vào thơ (chủ yếu là Hát nói, thơ chữ Hán) những lời tâm sự với một giọng “cao kỳ độc đáo”. Thơ ông do đó có nhiều tư tưởng triết lý gần với tư tưởng Lão - Trang hay Phật giáo hơn là Nho giáo. Cao Bá Quát tìm đến bầu rượu, túi thơ, gió mát, trăng thanh như bao thi nhân trước đó nhưng người đọc dường như vẫn nhận ra trong thơ ông không có sự bình lặng, thanh thản, không phải là sự than thân, trách phận mà luôn day dứt khôn nguôi, ngay cả khi ông nhận ra sự “kém hơn, hay dở ở đời trở thành vô nghĩa trước cái nhìn tự tuyệt đối giới” (Phạm Thế Ngũ).

Bài hát nói “Uống rượu tiêu sầu” là một minh chứng tiêu biểu trong số ấy, vẫn là quỹ “nhân sinh ba vạn sáu” nhưng không quá tiếc nuối trước sự trôi chảy thời gian như ở Nguyễn Công Trứ (Vạn sáu tiêu nhăng hết cả rồi) rút cuộc nửa đời Cao Bá Quát ngoảnh lại chỉ thấy “Mảnh hình hài không có có không: Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy/ Cảnh phù du trông thấy đã nực cười/ Thôi công đâu chuốc lấy sự đời/ Tiêu khiển một vài chung lếu láo/… Dưới thiều quang thấp thoáng bóng Nam san/ Ngoảnh mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ/ Khoảng trời đất cổ kim, kim cổ/ Mảnh hình hài không có, có không”.

Trong nhiều bài hát nói khác Cao Bá Quát cũng có lúc thể hiện tâm trạng bất đắc chí, đắp tai ngoảnh mặt với thời cuộc, giống như Nguyễn Khuyến đóng vai “anh giả điếc sau này”: “Một rủi một may là máy tạo/ Dù khôn dù dại cũng bia trần/ Việc đã rồi nghĩ lắm lại thêm đần/ Liếc gươm trí cắt giặc phiền từ đó/ Nằm khểnh ngâm thơ cho vợ ngủ/ Ngồi rù uống rượu với con chơi/ Mô phạm dăm ba đứa mũi chưa chùi/ Tiêu khiển mấy cô đào mới nỏi/ Ngoài tai ấy tha hồ ai gọi/ Rằng ngựa trâu vâng cũng ngựa trâu/ Nào đâu đã hẳn hơn đâu (May rủi).

Lối sống thị tài, đa tình ở Cao Bá Quát có phần chướng tai, gai mắt với các nhà Nho hành đạo khi họ luôn lấy tu, tề, trị, bình làm lý tưởng của mình. Ông tìm đến thú nhàn, coi lối sống thanh nhàn là lãi, kiếp phù sinh rút cục cũng chỉ là áng mây thoáng chốc: “Kiếp phù sinh vinh nhục, nhục vinh/ Liếc mắt đám mây trôi mấy chốc/… Hội công danh nhớn nhỏ cũng là/ Thôi mặn nhạt đã trải qua mùi thế/ Tìm thú cũ hỏi thăm sơn thuỷ/ Chén hoàng hoa ngồi lắng ngọn thu phong/ Thảnh thơi một giấc bắc song” (Thanh nhàn là lãi).

Từ khi bị điều về làm giáo thụ Quốc Oai, Cao Bá Quát càng nhận rõ bộ mặt triều đình nhà Nguyễn và Tự Đức khi có dụng mà không trọng mình, ông cũng có dịp gần dân chúng hơn (tất nhiên chưa phải vấn đề giai cấp). Ông nhận thấy nỗi thống khổ của nhân dân dưới triều Tự Đức, rồi thiên tai, lũ lụt, mất mùa xảy ra liên miên. Năm 1854, Cao Bá Quát đã cùng những hào kiệt Đinh Công Mỹ, Bạch Công Chân tôn Lê Duy Cự làm minh chủ và dấy cờ khởi nghĩa.

Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương (giặc Châu Chấu) nhanh chóng lan ra cả vùng rộng lớn từ Sơn Tây, Hà Đông, Vĩnh Tường… nhưng do lực lượng mỏng, không được trang bị vũ khí, lại có kẻ trong hàng ngũ phản bội nên nhanh chóng thất bại khi quân triều đình phản công. Cao Bá Quát bị tử trận, ông bị cắt đầu bêu khắp các tỉnh Bắc kỳ, người thân, dòng họ bị chịu án thảm khốc tru di tam tộc. Cái chết của Cao Bá Quát là biểu hiện cao độ cho tinh thần phản kháng với chế độ hà khắc, bảo thủ thời Tự Đức, minh chứng tiêu biểu của một danh sĩ bất phùng thời.

Xung quanh cuộc đời và cái chết của Cao Bá Quát, đến nay vẫn còn nhiều giai thoại nói lên tài năng, bản lĩnh, nhân cách của một con người cứng cỏi, “suốt đời chỉ biết cúi đầu trước hoa mai”; “Thằng nào chém tớ, chém cho đứt/ Có lấy tiền công tớ trả sau”. Hình tượng Cao Bát Quát cũng trở thành nguyên mẫu của nhân vật Huấn Cao trong những trang văn tài hoa của Nguyễn Tuân.

Năm 1964, nhà thơ Sóng Hồng có đến Jakarta (Thủ đô Indonesia) nơi Cao Bá Quát từng bị đi dương trình hiệu lực theo đoàn công cán triều Nguyễn, mà ngậm ngùi nhớ tới ông: “Chu Thần xưa ở nơi đâu/ Để cho Miên Thẩm lên lầu không an/ Ngày ngày đứng tựa lan can/ Mỏi trông mây cuốn trời Nam dặm nghìn?”. Hơn 150 năm đã trôi qua nhưng cuộc đời và sự nghiệp thơ văn của Cao Bá Quát vẫn cần các nhà nghiên cứu tiếp tục làm sáng tỏ để hậu thế hiểu thêm về một danh sĩ tài hoa lỗi lạc ở đầu thế kỷ XIX.

Nguyễn Quỳnh Anh

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...