Cạnh “phố Phái” trầm mặc, có “phố Xương” thanh bình

Nhắc đến dòng tranh về Hà Nội, người ta nhớ ngay đến tranh Bùi Xuân Phái với những ngõ nhỏ, phố nhỏ thâm trầm, cổ kính. Ông gần như chiếm vị trí độc tôn, hình thành nên khái niệm "phố Phái". Ít người biết rằng, trước Bùi Xuân Phái, có một họa sĩ cũng khá thành công với dòng tranh về Hà Nội, làm nên "phố Xương" riêng biệt.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái và Lê Văn Xương sống cùng thời với nhau. Lê Văn Xương sinh năm 1917, hơn Bùi Xuân Phái 3 tuổi và mất cùng năm với Bùi Xuân Phái (1988). Sinh thời, hai ông kết giao bằng hữu, thường đi thưởng ngoạn phong cảnh Hà Nội và cùng nhau vẽ. Mỗi người một phong cách. Nếu "phố Phái" ít xuất hiện con người, "phố Xương" lại đông người.

Nếu "phố Phái" mang nhiều gam màu nâu trầm gợi không gian u buồn, bâng khuâng, man mác thì "phố Xương" lại thanh thản, hào hoa và lãng đãng như những áng văn trữ tình của Thạch Lam, Nguyễn Tuân… So mốc thời gian, Lê Văn Xương vẽ Hà Nội trước Bùi Xuân Phái một, hai thập niên. Ông bắt đầu vẽ từ thập niên 40 của thế kỷ trước. Dù vẽ bằng nhiều chất liệu như sơn dầu, màu nước... nhưng ông thành công nhất với bột màu và phấn tiên.

Họa sĩ Lê Văn Xương thời trẻ.

Họa sĩ Lê Văn Xương thời trẻ.

Vì nhiều nguyên do, Lê Văn Xương lại ít được thế hệ công chúng sau này biết đến dẫu trước 1954, ông rất nổi tiếng. Thời điểm ấy, hiếm có họa sĩ nào tại Việt Nam tổ chức đến 4 triển lãm cá nhân đình đám như Lê Văn Xương. Năm 1941, Lê Văn Xương mở triển lãm tranh cá nhân đầu tiên tại Sài Gòn. Năm 1949, ông triển lãm tại phòng tranh riêng ở Hà Nội. Năm 1951 là triển lãm ở Đà Lạt.

Triển lãm nào cũng bán được tranh, nhất là dòng tranh về Hà Nội. Đặc biệt, triển lãm "Hà Nội 36 phố phường" tại Nhà hát Lớn Hà Nội năm 1953 của Lê Văn Xương không chỉ gây sửng sốt cho làng mỹ thuật mà còn thu hút cả giới  quan chức, thương nhân...

Triển lãm giới thiệu 29 tác phẩm, 9 tác phẩm nhanh chóng có người mua. Đến dự khai mạc triển lãm này, họa sĩ Bùi Xuân Phái thán phục người bạn: "Điểm ham làm việc làm tôi thấy ở Văn Xương tương lai rực rỡ. Anh vẽ loại phấn màu đặc sắc hơn những loại khác". Năm 1958, Lê Văn Xương và Diệp Minh Châu là hai đại diện Việt Nam vừa có tranh, vừa có tượng tham gia triển lãm của 12 nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức tại Liên Xô (cũ).

Khi Lê Văn Xương tạ thế, tranh ông ít xuất hiện, các tài liệu thông tin về ông cũng cực kỳ hiếm. Năm 1997, gia đình ông tổ chức triển lãm để tưởng niệm ngày mất nhưng chỉ trong khuôn khổ tư gia nên ít người biết đến. Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn lưu giữ của ông một bức tranh bột màu vẽ bờ biển nắng vàng theo phong cách ấn tượng.

Cuốn "Nghệ sĩ tạo hình Việt Nam hiện đại" in năm 2009 vỏn vẹn vài dòng về tiểu sử, các tác phẩm chính và giải thưởng của Lê Văn Xương như: "Du kích Tây Nguyên" (phấn màu), "Dân chài xã Vĩnh Trà" (phấn màu), "Chân dung họa sĩ Tề Bạch Thạch" (tượng), Huy chương Vì sự nghiệp mỹ thuật Việt Nam năm 1997. Năm 2012, trong bản tin về triển lãm bộ sưu tập của Tira Vanichtheeranont tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tác phẩm "Kéo pháo lên đồi" vẽ năm 1961 của Lê Văn Xương được giới thiệu. Đây cũng là dịp hiếm hoi tác phẩm của ông được trưng bày.

Một năm sau,  nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng cung cấp thêm chút thông tin trong bài báo "Một chặng đường của dân tộc và đời người": "Cuộc kháng chiến chống Mỹ và miền Bắc thời chiến tranh cũng đã trở thành hình ảnh sinh động cho những họa sĩ vẽ trước năm 1975 và tất nhiên sau đó là thời hậu chiến nhọc nhằn.

Những ký họa của Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Lê Văn Xương, Nguyễn Văn Thiện, Phan Thông, Nguyễn Cao Thương, Nguyễn Thụ, Mai Long, Mai Văn Hiến, Phạm Viết Song, Phạm Lực… vẽ trong những giai đoạn đó. Họ đi cùng đất nước, gian khổ, đau khổ, đói nghèo, yêu thương như một người bình thường, chỉ khác mỗi việc cầm bút vẽ ra và may mắn lưu lại được phần nào công việc".

Cuối năm 2016, cái tên Lê Văn Xương lại khiến người ta chú ý khi bức tranh lụa "Thiếu nữ" được nhà đấu giá Lý Thị bán thành công với giá 22.500 USD tại một phiên đấu thương mại ở TP Hồ Chí Minh. Điều này càng khiến giới yêu mỹ thuật và công chúng dấy lên câu hỏi: họa sĩ Lê Văn Xương là ai?

Cuối tháng 9 vừa qua, lần đầu tiên tác phẩm, thông tin cuộc đời, sự nghiệp của họa sĩ Lê Văn Xương đến với giới mỹ thuật và đông đảo công chúng qua triển lãm "Điều kỳ diệu" diễn ra tại TP Hồ Chí Minh. Con gái ông - nhà sưu tập Lê Y Lan giới thiệu 101 bức tranh của cha mà chị cất công sưu tập gần 20 năm qua. Ngoài những bức chân dung tự họa, chân dung người thân, đáng chú ý nhất tại triển lãm là dòng tranh về phố phường Hà Nội thập niên 40-50.

Theo tư liệu gia đình, suốt cuộc đời mình, Lê Văn Xương vẽ khoảng 1.000 bức tranh, trong đó hơn 100 bức vẽ về Hà Nội. Đó là con đường, góc phố, di tích, phong cảnh thanh lịch của Thủ đô ngàn năm văn hiến. Ngắm tranh ông mà ngỡ như lạc vào câu văn Thạch Lam trong "Hà Nội băm sáu phố phường": "Tất cả cuộc đời của những kẻ bên trong, cuộc đời xưa, những hy vọng và mong ước khác bây giờ dường như đang hiển hiện trong khung cảnh ấy". Có những bức ông vẽ khi đang sống tại Hà Nội, nhưng cũng có những bức ông vẽ khi đã chuyển vào TP Hồ Chí Minh. Hà Nội trở thành miền ký ức lung linh, vương màu hoài niệm mà ông nâng niu, lưu giữ trên từng nét cọ.

Bức "Chợ Đồng Xuân", tranh bột màu của họa sĩ Lê Văn Xương.
Bức "Chợ Đồng Xuân", tranh bột màu của họa sĩ Lê Văn Xương.

Nhà nghiên cứu Quang Việt cho rằng họa sĩ Lê Văn Xương vẽ phố Hà Nội không như phố Hà Nội thực tế mà vẽ theo ý niệm nghệ sĩ. Ai cũng biết phố ồn ào, chật chội nhưng trong tranh Lê Văn Xương, Hà Nội lại vô cùng quang đãng, êm đềm và rất thanh bình.

Đặc biệt, Hà Nội trong tranh hiện lên rất mát mẻ dù đây là xứ nóng. Có cảm giác ông nghiêng về mùa xuân, mùa thu, mùa đông và chú ý đến sinh hoạt của con người trong lòng phố. "So với Bùi Xuân Phái, họa sĩ Văn Xương vẽ Hà Nội ở một cảm xúc khác:  đầy sinh khí, tươi vui, trong sáng mà cũng không kém phần thâm trầm. Vẽ về Hà Nội trong những tháng năm khốn khó, lửa đạn nhưng tranh Văn Xương luôn lãng mạn, đậm chất thơ. Đây là điều hiếm có" - ông đánh giá.

Đến dự triển lãm, ông Terrance Teis, người biên soạn vựng tập về hội họa tại Mỹ cảm nhận: "Lê Văn Xương đã đạt tới một trình độ độc đáo và có ý nghĩa quan trọng về mặt lịch sử khi pha trộn các phong cách, kỹ thuật và cách sử dụng chất liệu của châu Âu và châu Á. Tôi rất thích thú với cách thức ông sử dụng các miêu tả hiện thực đối với không gian, phối cảnh và chuyển động. Đối với những nhân vật đang bước trên phố, ông nắm bắt được sự tương tác ánh sáng, chuyển động và chất liệu của y phục bằng cách sử dụng một cách sáng tạo các lớp màu trong mờ, kết hợp giữa nghệ thuật Tây phương và Đông phương".

Cũng từ triển lãm, chân dung họa sĩ tài hoa Lê Văn Xương được hé mở. Ông xuất thân trong một gia đình khá giả làm đồ gỗ ở Nam Định. 12 tuổi, Văn Xương lên Hà Nội học hội họa. Ông giao du mật thiết với các họa sĩ như Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Thọ, Mạnh Quỳnh, Hoàng Lập Ngôn... Dù là họa sĩ thành danh, có nhiều tranh được đánh giá cao, nhất là ở mảng tranh bột màu với kỹ thuật lão luyện nhưng Lê Văn Xương không phải là sinh viên Trường Mỹ Thuật Đông Dương. Ông tự học hoặc mời thầy về dạy. Năm 1937, ông mời người bạn đang học Trường Mỹ Thuật Đông Dương là Nhan Chí (1920-1967) - nổi tiếng vẽ chân dung bằng phấn tiên - làm thầy dạy vẽ nâng cao cho mình.

Nhà nghiên cứu Ngô Kim Khôi lý giải: "Bên cạnh sở trường về hội họa, họa sĩ Văn Xương còn là một nghệ sĩ lãng tử đa tài, chơi thông thạo nhiều loại nhạc cụ như violin, piano, accordion, mandolin và guitar Hawaii. Đặc biệt ông còn từng là một hiện tượng trong thể thao với không ít giải thưởng bơi lội, việt dã, quần vợt, bóng bàn... Phải chăng, với tính tình lãng tử, phóng khoáng, năng động, Lê Văn Xương không chịu được những gò bó khắt khe của ngôi trường mỹ thuật danh giá nhất Đông Dương thuở ấy?".

Giới yêu mỹ thuật mong muốn "phố Xương" sẽ sớm có dịp tái ngộ Hà Nội. Bởi nơi đây là cảm hứng, là mạch nguồn để bức tranh thành hình. Và chính người Hà Nội mới có thể chạm tới trái tim và tấm lòng mà họa sĩ Lê Văn Xương trọn một đời gửi gắm như bức thư tình nồng nàn ông dành tặng chốn kiều thơm. "Để cho những người mong ước kinh kỳ ấy, và để cho những người Hà Nội chúng ta yêu mến Hà Nội hơn" - Thạch Lam.

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.