Cái roi trong các không gian văn hoá

Cách nay trên dưới nửa thế kỷ, ở nhà quê, mỗi đứa trẻ trâu thường quen thuộc với hai cái roi. Đứa nào cũng có cái roi - để “điều khiển” trâu. Rất linh tinh, đơn giản, chỉ là một thanh nứa, thanh tre, hoặc cành cây nhỏ. Đứa nào cầu kỳ, “thửa” bằng đoạn mây vàng óng…

Hôm nào trời đẹp, tất cả hẹn nhau thay roi trâu sao cho cứng, dài hơn, để chơi “đánh trận giả”. Chiều đến, cả bãi hoang chan chát tiếng “gươm đao”, tiếng hò la, tiếng xung phong... Mặc trâu ăn lúa. Tất cả “cuốn” vào “trận đánh”, có đứa “trúng roi” sưng vù cả mặt. “Hoạ vô đơn chí”. Đã thua trận, về nhà còn “ăn” tiếp roi mây…

Cái roi trong các không gian văn hoá -0
Thiếu nữ Bình Định “múa roi, đi quyền”.

Đứa nào cũng hãi cái roi mây ấy. Nó được giắt trên mái nhà, đầu hiên. Mắc lỗi, bố gọi về. “Xoẹt” một cái, roi mây được rút xuống… Đứa nhát, chưa bị “ăn roi” đã khóc… Ngày nay, không còn trâu cày, nhà mái rạ thay bằng biệt thự, villa… Trẻ con không “được” đi “trâu”. Không còn roi mây. Còn cũng không có chỗ “giắt”. Đầu hai thứ tóc, gặp nhau, có đứa kể, “nên người” là nhờ cái “roi mây”…

Chả là, ngày ấy, các thầy cô trong trường cấp 1, cấp 2 (cấp tiểu học và trung học cơ sở bây giờ) cũng vẫn dùng roi. Có thầy dùng luôn roi trâu (vốn dùng đi cày), để dạy lũ học trò “nhất quỷ, nhì ma…”. Nhưng không hề có kiện cáo. Thậm chí các bậc phụ huynh nhiệt liệt ủng hộ.

Vì cái ngày ấy, vẫn nặng quan niệm: “Yêu cho roi cho vọt…”. Hầu như ngày nào thầy cũng kể, ngày xưa đi học chữ Nho, trò mắc lỗi, “cụ đồ” bắt nằm sấp, quất roi thật đau. Bây giờ “dân chủ quá trớn”… Học trò chẳng hiểu thế nào là “dân chủ”. Có đứa bị vụt đau, giờ ra chơi, thầy ra ngoài, lén lấy trộm roi, vứt đi thật xa. Vừa vứt vừa lẩm bẩm “dân chủ này”…

Thế mà cái roi đơn giản ấy từng vun vút trong nhiều không gian văn hóa.

Văn hóa phương Đông kể, thời xưa có một người con rất hiếu thảo, tên là Hàn Bá Du. Mỗi khi cậu mắc lỗi, mẹ của cậu đều dạy bảo bằng “roi” rất nghiêm khắc. Đến khi đã trưởng thành, khi mắc lỗi, Du vẫn bị mẹ dùng roi. Lần ấy, mẹ đang quất roi, bỗng nhiên cậu khóc rất to. Trước đó, cậu gan lì, chưa khóc bao giờ. Người mẹ ngạc nhiên hỏi, sao còn khóc. Bá Du nức nở: “Vì nay con thấy không đau nữa. Tức sức mẹ đã yếu đi nhiều…”. Hẳn nhiên, đó là truyện ngụ ngôn, nhưng trở thành bài học đi vào dân gian, là bài học về tình mẫu tử, về nền nếp gia phong...

Ở thời hiện đại, có thể nhà thơ Nguyễn Vĩnh Tiến chịu ảnh hưởng câu chuyện này, mà có bài thơ hay “Cái roi tre” (được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông cơ sở). Mở đầu là sự “tái diễn giải” truyền thống: “Bố tôi với cái roi tre/ Khi tôi bỏ học, chạy về thăm ông”. Người ông thân yêu bị ốm. Tuổi cao sức yếu. Không tránh khỏi quy luật thời gian. Đứa cháu nhìn ông trong cơn “mê tỉnh ngổn ngang”, thương ông: “Tôi nhìn ông, muốn khóc òa/ Nỗi đau đâu cứ phải là roi tre?”. Nỗi đau vật lý chuyển thành nỗi đau tâm lý.

Có một Hàn Bá Du trong cậu học trò “tôi” thời nay. Xưa, bị ông đánh roi, chỉ đau một lúc. Nay, ông sắp “ra đi”, nỗi đau trong lòng không thể nguôi ngoai… Sẽ còn đau mãi. “Chiều nay bỏ học tôi về/ Bố tôi quăng cái roi tre lên trời”. Không hình ảnh, câu chữ nào nói về mất mát nhưng vẫn có thể hình dung về một nỗi đau rất lớn.

Trong văn hoá Ai Cập cổ đại, trước khi trở thành biểu tượng, cái roi gắn liền với đời sống người dân. Cũng đa dạng cách dùng, như một vũ khí, bảo vệ đàn cừu khỏi thú săn mồi và kẻ trộm. Để điều khiển đàn cừu. Lại có khi sử dụng như một công cụ để đập, tách hạt ra khỏi vỏ cây trồng... Nhưng chắc chắn không thể thiếu trong chiến tranh, vì gắn liền với con ngựa. Có thể vì thế, kết hợp với gậy, roi trở thành biểu tượng cho quyền lực, sự điều khiển, sai khiến.

Khảo cổ học mô tả các pharaon thường được chôn cất trong hình dạng hai tay cầm roi và gậy bắt chéo trước ngực. Chung quanh biểu tượng này có nhiều cách hiểu. Roi và gậy tượng trưng cho sự cân bằng quyền lực và kiểm soát; sự trừng phạt và kỷ luật; vai trò cai trị “điều binh khiển tướng” hài hòa pháp lệnh và lòng yêu thương.

image001.jpg -0
Biểu tượng roi và gậy của các pharaon Ai Cập.

Lại có cách hiểu xa hơn, gậy tượng trưng cho lòng nhân từ, roi tượng trưng cho sự trừng phạt nghiêm khắc… Từ góc nhìn văn hóa tâm linh, lại thêm cách hiểu, gậy và roi biểu trưng cho mối quan hệ giữa thần Osiris và các vị thần Ai Cập khác. Trong hệ thống thần thánh Ai Cập cổ, Osiris là vị thần của cõi chết luôn dùng gậy và roi để xét xử các linh hồn. Khi sang “thế giới bên kia”, các Pharaoh cầm roi và gậy bắt chéo trước ngực, là biểu tượng cho khát vọng được thần Osiris giúp tái sinh hoặc thành công trong việc vượt qua thử thách để đến với Thượng Đế...

Trong văn hóa phương Đông cổ, hình tượng cái roi gắn liền với chiến tranh, bởi con ngựa là phương tiện cực kỳ lợi hại, không thể thiếu. Tất yếu sản sinh ra các thành ngữ, như “Ném roi lấp dòng” có nguồn gốc từ câu chuyện vua Phù Kiên (337-385). Trong trận đánh lớn (tương truyền là trận Phì Thủy năm 383), để đe dọa đối phương, kích thích tinh thần tướng sĩ bên mình, Phù Kiên nói: “Ta cho quân ném roi ngựa xuống sông cũng đủ lấp dòng”. Câu nói thật ghê gớm, biểu thị quyết tâm vượt mọi trở ngại để đánh trận; tin tưởng tuyệt đối vào tướng sĩ; tư thế sẵn sàng hành động ngay. Có lẽ từ đấy mà thêm thành ngữ “Ném roi lên đường”, tức “một đi không quay lại”…

Hẳn nhiên, roi có nhiều loại. Ấn tượng hơn cả phải là roi dùng để tra tấn tội phạm. Thơ văn về hình tượng roi kiểu này, Cao Bá Quát (1808-1855), trong “Bài ca cái roi song” (Đằng tiên ca), miêu tả sinh động hơn cả: “Quan to ngồi trên, dưới một thầy/ Truyền đem hình cụ bày la liệt/ Cây roi song lớn dài dài sao/ Mình rắn da thâm, uốn chẳng vào/ Thân tù nằm sấp, vẻ xanh xám/ Như con dê sợ nhìn trước sau/ Tay chân căng thẳng mắt mờ hoáng…”.

Đoạn thơ miêu tả cảnh công đường chuẩn bị cuộc tra tấn, có quan to, nha lại (một thầy), có các hình cụ tra tấn (tạo tâm lý hoảng sợ ở tội nhân). Cây roi được đặc tả: “Roi song lớn dài dài sao/ Mình rắn da thâm, uốn chẳng vào”. Trong bối cảnh ấy, tội nhân phải “nằm sấp”, “vẻ xanh xám”, tay chân bị “căng” ra, “mắt mờ”… Tội nhân chưa bị đánh, người đọc cũng đã thấy “đau” rồi. Cho đến khi: “Bị tra tấn mãi miệng cứng đờ/ Một mực kêu trời “Khổ! oan uổng!”/ Tiếng quan như sấm rường nhà rung/ Ánh roi như chớp vụt tứ tung/ Giơ lên, rồng quật bờ ao lở/ Ngừng lại, nước dội nồi canh bồng”.

Đang đánh, đã đau quá rồi. Ngừng đánh cũng đau. Một so sánh ám ảnh (nước dội nồi canh bồng), tức thịt đau rát như bị “luộc chín”… “Tội nhân” này rất có thể chính là Cao Bác Quát. Bởi ông từng bị tù giam. Là quan chấm thi, thấy có những quyển khá, nhưng “phạm húy”, tiếc cho người tài, ông cùng người bạn là Phan Nhạ dùng muội đèn để chữa. Việc bại lộ. Ông bị khép tội nặng…

Tưởng là đã đi vào lịch sử, thế mà, ngày nay, thời hiện đại, ở một số nước châu Á (Singapore, Malaysia, Brunei) vẫn còn hình thức tra tấn tội nhân bằng roi. Theo nhiều nghiên cứu, đó là “di sản và ảnh hưởng bởi sự cai trị của thực dân Anh”. Ngày nay chỉ “áp dụng” cho các tù nhân nam dưới 50 tuổi. Đánh roi cũng được “áp dụng” để trừng phạt nam sinh (tiểu học và trung học), nếu phạm hành vi sai trái nghiêm trọng.

Văn hóa Việt Nam thời cận đại xuất hiện thành ngữ: “Áo ấm, roi mây”. Có xuất xứ từ câu chuyện về Hoàng Diệu (1829-1882). Tổng đốc Hà Nội. Đêm ấy trời trở rét, thương mẹ, sợ mẹ rét, Hoàng Diệu lấy chiếc áo ấm của mình gói lại, sai lính hầu phi ngựa thật nhanh về quê. Người mẹ mở ra, ngẫm ngợi, rồi lấy chiếc roi mây, cho vào giữa chiếc áo ấy, bọc lại, sai lính đưa ngay về “dâng quan Tổng đốc” kèm theo lời dặn: “Dân tình còn nhiều người đói rét, mẹ vẫn “ấm áp” hơn rất nhiều người...”. Hoàng Diệu “cả kinh” khi nhận quà mẹ gửi. Ông hiểu mẹ nhắn rằng: Hãy lo cho dân tình bớt đói rét, mới là trọn đạo Hiếu. Giặc Pháp tấn công thành Hà Nội (1882), Hoàng Diệu giữ thành đến hơi thở cuối cùng, rồi tự vẫn để tròn đạo Hiếu Trung.

Trong võ thuật cổ truyền Việt Nam, môn võ roi Bình Định được truyền tụng, ca ngợi. Môn võ này lấy roi làm vũ khí. Được làm bằng gỗ dẻo, mây già, tre đặc, to nhỏ ngắn dài, tùy người sử dụng. Môn phái võ roi Thuận Truyền có tiếng vang xa hơn cả (Roi Thuận Truyền, quyền An Thái).Truyền ngôn kể: Người múa roi đứng giữa vòng tròn, chung quanh đặt 4 ngọn lửa (từ bốn cái đĩa đựng dầu phụng/lạc). Đường roi ảo diệu, nhanh, mạnh sẽ làm tắt cùng lúc 4 ngọn lửa… thì đó là “roi Thuận Truyền”.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.