Cái nhát thiên tài lóe ở cuối câu

Với tôi, Chế Lan Viên là nhà thơ toàn năng, quyền biến, trường sức và giàu nội lực. Thơ ông là thơ của một người có một bề dày văn hoá, có chiều sâu của sự trải nghiệm và có tư tưởng. Thơ ông là thứ thơ “cảm xúc trí tuệ”...

1.Hồi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông, tôi đặc biệt thích 2 bài thơ: “Xuân” và “Người đi tìm hình của nước” mà Chế Lan Viên là tác giả. Hai bài thơ mang hai phong cách thật khác nhau. Bài “Xuân” (trích từ tập “Điêu tàn”) có những câu thật tâm trạng và ám ảnh: "Tôi có chờ đâu có đợi đâu/ Đem chi xuân đến gợi thêm sầu/ Với tôi tất cả đều vô nghĩa/ Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau/ Ai đâu trở lại mùa thu trước/ Nhặt lấy cho tôi những lá vàng".

Còn bài thơ “Người đi tìm hình của nước” (trích từ tập “Ánh sáng và phù sa”) có một cái tứ rất lạ, thể hiện rõ nét trong 4 câu: "Mà hình đất nước hoặc còn hoặc mất/ Sắc vàng nghìn xưa, sắc đỏ tương lai/ Thế đứng đi của toàn dân tộc/ Một cách vin hoa cho hai lăm triệu con người".

Những câu "Trăm cơn mơ không chống nổi một đêm dày/ Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi/ Lòng ta thành con rối/ Cho cuộc đời giật dây/ Quanh hồ Gươm không ai bàn chuyện vua Lê/ Lòng ta đã thành rêu phong chuyện cũ”; “Một viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá”; “Ăn một miếng ngon cũng đắng lòng vì Tổ quốc…" luôn gây ấn tượng cho tôi. Tôi dám chắc vào những năm 30, 40, 50, 60 của thế kỷ trước, không mấy nhà thơ có những câu thơ viết có nghề, lại có hiệu quả nghệ thuật cao như vậy.

Lớn lên, càng đọc thơ Chế Lan Viên tôi càng khâm phục và kính trọng ông.

Với tôi, Chế Lan Viên là nhà thơ toàn năng, quyền biến, trường sức và giàu nội lực. Thơ ông là thơ của một người có một bề dày văn hoá, có chiều sâu của sự trải nghiệm và có tư tưởng. Thơ ông là thứ thơ “cảm xúc trí tuệ”. Trải qua nhiều năm, từ khi còn ở tuổi hoa niên cho đến lúc đã đến tuổi xế chiều, ở bất cứ thời kỳ nào, ông cũng có những bài thơ hay và những câu thơ hay. Đôi lúc, tôi có cảm giác: Dường như động đến bất cứ đề tài nào, Chế Lan Viên đều có thể làm được thơ và có thơ hay. Ông thường là người “đào sâu, xoáy mạnh” trong thơ như ông thường xuyên khuyên những nhà thơ trẻ.

Riêng về số lượng, ông có cả nghìn bài thơ in thành hai tập thơ dày quãng 1.400 – 1.500 trang sách khổ 14,5 x  20,5cm. Điều đó chứng tỏ năng lực sáng tạo thi ca của ông rất tiềm tàng.

Nhà thơ Chế Lan Viên.
Nhà thơ Chế Lan Viên.

Sinh thời, nhà thơ Nguyễn Đình Thi coi hai câu thơ: "Em đi như chiều đi/ Gọi chim vườn bay hết" là hai câu thơ tài tình nhất của Chế Lan Viên.

Sinh thời, nhà thơ Phạm Tiến Duật coi câu thơ: "Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét" là câu thơ độc đáo, giản dị mà sâu sắc của Chế Lan Viên.

Còn nhà thơ Hữu Thỉnh thì coi hai câu thơ: "Khi vui lấy núi làm vui/ Khi buồn nhặt trái sim rơi đỡ buồn" là một cặp lục bát rất giàu tâm sự và là hai câu thơ vừa quý vừa hiếm trong bối cảnh thơ kháng chiến chống Pháp của Chế Lan Viên.

Không gian thơ của Chế Lan Viên rất rộng và đa chiều. Thơ ông không chỉ đề cập đến cuộc sống, đến thời cuộc… mà còn đề cập đến số phận của thơ, đến số phận của các nhà thơ. Có lúc, ông tiếc cho những nhà thơ sống và làm thơ không xứng với tầm cỡ của mình:

Những nhà thơ bỏ các đề tài khoáng đạt
Về trong phòng con ngột ngạt
Như con hổ đại ngàn
Hoá chú mèo con
Xưa đến thác rừng uống những vầng trăng
Nay liếm miếng thịt con trong bát
Và thiên hạ thấy chú lấy tiếng meo meo làm tiếng hát
Thay cho những tiếng gầm náo động không gian.

Vốn sinh ra là hổ, nay lại bị đội lốt mèo. Từng “uống những vầng trăng”, nay lại phải “liếm miếng thịt con trong bát”, vậy mà còn “lấy tiếng meo meo làm tiếng hát” thì thật là bi kịch.

Cũng có lúc, ông lại thương cho những nhà thơ diễn trò vì bất tài:

Những nhà thơ mất giá
Lại thường hay đổi tiền
Mong dùng nhiều chữ lạ
Lừa người tiêu quá quen.

Lấy hiện tượng đổi tiền vì mất giá và hy vọng định qua mặt “người tiêu quá quen” bằng cách “mong dùng nhiều chữ lạ” như mong dùng những đồng tiền vừa buộc phải đổi lại thì cũng là một bi kịch không hơn không kém.

Lúc trẻ, ông tự ví mình là "Một cánh chim thu lạc cuối ngàn". Khi về già, ông tự nhận ra mình là "Tháp Bay-on bốn mặt" mà suốt đời phải "giấu đi ba" trong bài thơ “Tháp Bay-on bốn mặt”:

Anh là tháp Bay-on bốn mặt
Giấu đi ba, còn lại đấy là anh
Chỉ mặt đó thôi mà nghìn trò cười khóc
Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình.

Và trên hết, ông là một nhân vật lớn với chiều kích lớn:

Dẫu mai này trái đất chẳng còn anh
Anh vẫn còn nguyên trái đất
Tặng cho mình.

2.  Ngay từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, Chế Lan Viên đã có một bài thơ mang tên “Sổ tay thơ” đáng lưu ý. Bài thơ dài khoảng 150 câu có hàm lượng tổng kết, khái quát, đúc rút về thơ và về người làm thơ rất đáng kể. Bên cạnh “Sổ tay thơ”, ông còn có nhiều bài thơ khác mang giá trị tương tự. Đó là “Nội dung và hình thức”, “Thơ bình phương – đời lập phương”, “Làm thơ”, “Thơ cầm tay”, “Thơ về thơ”, “Thơ cao cả”, “Thơ”, “Thơ hiện đại”, “Nghĩ về nghề, nghĩ về thơ, nghĩ…”, “Chống lại với thơ Đường”, “Siêu thực”, “Thơ thế kỷ 20”, “Mở và khép”, “Thơ cao cả”, “Thơ thế kỷ 21”, “Săn thơ”, “Phong cách”, “Thi pháp trẻ”, “Văn xuôi và thơ”…

Và nhiều nữa. Có thể dẫn ra hàng loạt dẫn chứng chí lý từ những bài thơ này: "Thơ đong từng ngao như tát bể/ Là cái cân nhỏ xíu lại cân đời”; “Thơ dở không dịch được/ Thơ hay như người đẹp/ Ở đâu đi đâu cũng lấy được chồng”; “Bài thơ anh, anh làm một nửa mà thôi?/ Còn một nửa, cho mùa thu làm lấy”; “Nào máu có cấu trúc gì đâu, mà lòng ta chấn động/ Chẳng cấu trúc nào trên trang giấy của anh thay được máu người…".

Tôi nghĩ những câu thơ ấy đủ trở thành những gợi ý, những xuất phát cho những bài viết dài dài trong địa hạt phê bình, lý luận, nghiên cứu từ sau khi chúng ra đời. Riêng tôi, tôi gọi đấy là thứ thơ-phê bình, thơ-lý luận, thơ-nghiên cứu hoặc phê bình, lý luận, nghiên cứu thơ bằng thơ hết sức đặc hữu của Chế Lan Viên.

Là nhà thơ thiên về trí tuệ nên thơ tình của Chế Lan Viên cũng thiên về trí tuệ và thuyết phục người đọc từ trí tuệ. Bài “Tình ca ban mai” là một ví dụ tiêu biểu:

Em đi, như chiều đi
Gọi chim vườn bay hết
Em về tựa mai về
Rừng non xanh lộc biếc

Em ở, trời trưa ở
Nắng sáng màu xanh tre

Tình em như sao khuya
Rải hạt vàng chi chít

Sợ gì chim bay đi
Mang bóng chiều đi hết

Tình ta như lộc biếc
Gọi ban mai lại về

Dù nắng trưa không ở
Ta vẫn còn sao khuya

Hạnh phúc trên đầu ta
Mọc sao vàng chi chít

Mai, hoa em lại về...

Khi bình bài thơ này, tôi đã viết: “Tình ca ban mai” có thể còn có một tên gọi khác: “Tình ca ánh sáng”. Bởi vì em (tình em) như ánh sáng và như sự sống của anh vậy, nên em đi hoặc em ở đều có tác động, ảnh hưởng lớn đến anh. Em đi làm cho chiều đi, chim vườn đi; em về làm cho mai về, lộc biếc về; em ở thì trời trưa ở, nắng sáng ở… Nhưng tình ta còn mạnh hơn và cũng là một thứ ánh s áng, có thể gọi được cả ban mai về… Thế mới biết cái sức mạnh từ em, từ tình yêu của em, từ tình yêu của hai ta… có lắm khi cũng phi thường thật!

3.  Cả đời làm thơ, không ai nghĩ về việc làm thơ, về nghề thơ có thể khốc liệt, lạ lẫm và khác người như Chế Lan Viên:

Đánh giáp lá cà trong trận chữ
Đừng lùi vào thế thủ
Bước đường cùng thì cũng phải đà đao
Cái nhát thiên tài lóe ở cuối câu.

(“Đà đao”)

Trong trường hợp này, ông coi công việc người làm thơ, của nhà thơ là “năm ăn năm thua”, là “một mất một còn” với ngôn từ: "Đánh giáp lá cà trong trận chữ" và người làm thơ phải cố gắng "Đừng lùi vào thế thủ”. Một khi rơi vào “Bước đường cùng thì cũng phải đà đao”.

Theo tôi được biết qua “Tam quốc diễn nghĩa”: Đà đao là một thế võ sử dụng binh khí. Một khi không hạ gục được đối thủ trong cuộc đấu tay đôi, bậc cao thủ thường giở ngón võ cuối cùng là giả vờ quay đầu chạy trong thế giống như bị ngã ngựa, làm như mình bị thất thế, khiến đối phương chủ quan, khinh địch. Rồi chỉ chờ có thế, bậc cao thủ quật đao lại, hạ thủ đối phương một cách hết sức bất ngờ. Nếu tôi không nhầm thì trong “Tam quốc diễn nghĩa”, khi xung trận, chỉ có hai danh tướng có sở trường về đà đao, hiểu biết về đà đao là Quan Vũ (nước Thục) và Bàng Đức (nước Ngụy).

Từ tên một thế võ trở thành tên một bài thơ và một tứ thơ, từ một cuộc tỷ thí võ trong một trận đánh đi vào một cuộc tỷ thí với “trận chữ” – đó là biệt tài khai thác vốn hiểu biết sâu rộng có phần biến hóa từ kiến thức lịch sử của Chế Lan Viên.

Cuối cùng thì người làm thơ chiến thắng vì "Cái nhát thiên tài lóe ở cuối câu".Câu kết của “Đà đao” là một câu thơ xuất thần, được dồn nén từ ba câu thơ đầu.Không có câu thơ này thì tứ thơ rất khó đứng vững.

“Cờ bạc ăn nhau về cuối”, cũng như thơ ăn nhau ở kết cục, là như vậy!

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.