Ca khúc "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" - còn mãi với thời gian

65 năm kể từ khi ra đời, "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" vẫn là một ca khúc được đông đảo công chúng yêu mến. Không chỉ là tác phẩm đầu tiên trong chùm ca khúc về đề tài Anh hùng liệt sĩ của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, bài hát còn vinh dự đứng trong danh sách 10 ca khúc truyền thống tiêu biểu của lực lượng CAND.

Những ca từ thật giản dị và trào dâng cảm xúc "Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời" ở tuổi chưa tròn đôi mươi… và được đẩy lên cao trào bằng đường nét giai điệu trong sáng vút cao, thánh thiện nhưng cũng đầy kịch tính ở phần 2 của tác phẩm. Dù đã trải qua hơn nửa thế kỷ nhưng bài hát "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" vẫn làm lay động hàng triệu con tim biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước.

385530723_833634961841884_4904970184900134180_n.jpg -0
Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn (bên trái) và tác giả bài viết.

Bài hát "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" được sáng tác năm 1958, 6 năm sau ngày chị Sáu hy sinh, khi ấy nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn tuổi chưa tròn 30. Là một trong chùm 6 ca khúc tiêu biểu được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II năm 2000, "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" là ca khúc đầu tiên của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn viết về đề tài anh hùng liệt sĩ mang tính ngợi ca trữ tình. Đây cũng là một trong những ca khúc đầu tiên của dòng nhạc cách mạng viết theo chủ đề này. Ông được mệnh danh là nhạc sĩ của những liệt sĩ anh hùng với hàng loạt tác phẩm "Biết ơn chị Võ Thị Sáu", "Bài ca Lý Tự Trọng", "Bài hát về Ngô Mây", "Bài hát Nguyễn Văn Trỗi" và "Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương" …

Bài hát "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử "Khi đất nước vẫn chia làm hai miền" và giọng hát của chị Sáu khi ra pháp trường với âm hưởng hào hùng của những "Tiến quân ca", "Cùng nhau đi hùng binh", "Lên đàng"… vẫn như còn vang dội vào biết bao "trái tim những người đang sống" như một lời thúc giục, cổ vũ lớp lớp người nguyện "đi lên không bao giờ lui" trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Tác phẩm có cấu trúc ba phần chặt chẽ, gọn gàng, khúc triết, được mở đầu bằng một đường nét giai điệu nhẹ nhàng, tha thiết ở âm khu trung với tốc độ vừa phải mang tính tự sự được kết hợp với lời ca: "Mùa hoa lê ki ma nở, ở quê ta miền đất đỏ, thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng, đã chết cho mùa hoa lê ki ma nở" như một bức tranh phác họa về một vùng quê đất đỏ Nam bộ bình dị, hiền hòa, mặc dù trước khi bài hát ra đời, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn chưa hề đến nơi đây. Có lẽ bút pháp âm nhạc cùng trí tưởng tượng bay bổng của một nhạc sĩ - họa sĩ tài hoa đã tạo nên một vẻ đẹp không gian man mác hòa quyện vào giai điệu da diết, lắng sâu. Câu hai của phần thứ nhất nhắc lại bằng giai điệu của câu một nhưng ca từ đã được đẩy lên những cung bậc cảm xúc trải rộng, khái quát, bao la: "Sông núi đất nước ơn người anh hùng" và như một điểm tựa để chuẩn bị cho cao trào ở phần hai của tác phẩm.

Phần hai của tác phẩm, như lời tâm sự của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn: "Bài "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" là bài hát tôi viết trước đoạn giữa từ câu "Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời…" với cảm xúc trào dâng chợt đến cùng tư duy dự cảm đa chiều". Việc viết ca khúc không phát triển theo cách thức tuần tự là điều rất đặc biệt của các nghệ sĩ bậc thầy mà những thế hệ sau này coi như một mẫu mực thành công của sáng tạo nghệ thuật

Câu thứ nhất của phần hai là một giai điệu trong sáng, mạnh mẽ đầy chất bi tráng gồm 2 yếu tố âm nhạc tương phản về cung bậc mang tính ngợi ca: "Người thiếu nữ ấy như mùa xuân, chị đã dâng cả cuộc đời" và hình tượng hiên ngang, bình thản của người thiếu nữ anh hùng "dù chết vẫn không lùi bước". Câu thứ 2 của phần 2 là sự mô phỏng giai điệu âm nhạc của câu thứ nhất với những ca từ và âm điệu mạnh mẽ, quả quyết hơn "Giục đi lên không bao giờ lui" để kết toàn bộ phần cao trào của tác phẩm.

Phần ba của tác phẩm tái hiện gần như toàn bộ âm nhạc của phần thứ nhất nhưng mang nhiều tính chất "êm ả, quyến luyến" song cũng tràn đầy niềm tin, hy vọng vào một tương lai "mùa xuân lan tràn xứ sở"…

Có thể nói, "Biết ơn chị Võ Thị Sáu" là sự kết tinh điển hình, mẫu mực, hoàn hảo về nghệ thuật khai thác đề tài lịch sử, cảm xúc chân thực và tài năng sáng tạo của người nghệ sĩ - chiến sĩ. Tác phẩm xứng đáng là một trong những đỉnh cao trong dòng chảy của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam hiện đại thế kỷ XX.

Nhạc sĩ Trương Hùng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.