Bùi Phan Thảo: Nhận về bao dung

Trong con người Bùi Phan Thảo, cái chất Quảng Trị đậm đặc, dù anh cũng nhiều lần phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn để lưu lạc và từ năm 17 tuổi trở đi thì xa hẳn làng quê. Nhưng giọng nói, tố chất và dòng máu của người Quảng Trị thì vẫn luân lưu, vẫn làm nên cái tính cách Quảng Trị chân thật, yêu ghét rõ ràng, thẳng thắn trong hành xử.

Một giọng thơ lạ, đầy nội lực

Khi đón đoàn nhà văn TP. Hồ Chí Minh lên thực tế sáng tác ở Tây Nguyên, vừa gặp lại Bùi Phan Thảo, nhà thơ Đặng Bá Tiến, Phó Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật Đắk Lắk, đã nhận ra đây là chàng nhà thơ trẻ, biên tập viên trẻ ngày nào của tạp chí Văn nghệ Đắk Lắk. 

Vùng đất cao nguyên này là nơi Bùi Phan Thảo đã sống và làm việc một thời tuổi trẻ. Sau đó, năm 1990, anh vào TP Hồ Chí Minh làm việc ở một tờ báo lớn. Dù phải tạm quên con người văn chương một thời gian dài, song thỉnh thoảng anh vẫn sáng tác và 10 năm gần đây mới viết nhiều trở lại, chuyên tâm theo nghiệp văn chương, là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh.Một giọng thơ lạ, đầy nội lực

Anh trở lại văn đàn với một số tác phẩm khá đầy đặn, nhiều thể loại, song thơ vẫn là chủ lực. Những tập thơ của anh, như "Lao xao hồn phố", "Không chờ những giấc mơ" được chú ý nhiều vì giọng thơ khá lạ, vừa có nội lực của một cây bút làm chủ kỹ thuật với bút pháp có nhiều tìm tòi, làm mới trang thơ, song vẫn gần gũi và gợi mở nhiều tâm cảm.

Nhà thơ Bùi Phan Thảo.
Nhà thơ Bùi Phan Thảo.

Có thể xem Bùi Phan Thảo là nhà thơ của đời sống đô thị hiện đại, nơi tất cả những buồn vui sướng khổ của cư dân được phơi bày với đủ cung bậc. Đó là những tranh giành va đập trong lúc bon chen, bươn bả mỗi ngày (hơn thua nửa vòng bánh xe cái miệng thôi xinh); với cảnh ngập nước kẹt xe "ông giáo sư khả kính cũng phải chạy xe leo lề"; là những người đến nhà máy, công sở làm việc quần quật "như chiếc chong chóng lá dứa dại ngày ở quê, xoay tít và đến chiều héo rũ"…, cùng bộn bề nỗi đời đã trải.

Anh dành nhiều tình cảm cho những người nghèo. Họ tần tảo mưu sinh trên phố, giống nhau ở dáng vẻ bên ngoài và lo toan bên trong. Sau những bóng dáng đó là cả hiện tại và tương lai:

Sau những dáng người tất tả kia
là bóng những chàng trai, cô gái trên giảng đường đại học
lớn lên từ lam lũ của mẹ cha
mơ một ngày nghèo khó sẽ lùi xa
tiếng rao đêm của mẹ thành ký ức
vòng bánh xích lô của cha lăn qua nỗi buồn quánh đặc
vỡ ra thành giọt nước mắt lúc con nên người…

(Sau những dáng người)

Bùi Phan Thảo sống nhiều năm ở các đô thị, từ thị xã Quảng Trị ngày thơ ấu, các thành phố: Huế, Đà Nẵng, Hà Nội, rồi Buôn Ma Thuột và riêng với Sài Gòn - TP. Hồ Chí Minh, gần 40 năm. Anh đi nhiều và sống tận hiến. Ngòi bút báo chí và văn chương của anh hòa quyện, đặc tả từng góc phố, dắt đưa người đọc về một thời thật xa, ai cũng nhìn ra nỗi buồn mênh mang của chính mình qua hồi ức:

Một trăm năm trước góc phố này có chàng trai đứng đợi
bây giờ chàng trai ấy đã thành cát bụi
hèn chi đôi mắt đèn đường biết cay
Hãy dịu lòng đi
khi còn thấy căn biệt thự cũ mèm nơi ngã tư kia
không lâu nữa sẽ được đại gia hóa kiếp thành cao ốc
không còn tiếng cười ngủ thiếp trên ngói vỡ
không còn hoa khế rụng đầy trước cổng già nua

(Còn có ngày mai)

Một người từng trải, dấu chân đi khắp mọi miền, đời nhiều bão giông nhưng vẫn không thiếu lòng khoan dung trong những xử sự đời sống thường ngày và trên những trang thơ. Bạn bè thân thiết đều nhận xét Bùi Phan Thảo hiền lành, luôn sống nhân hậu, có trước có sau, hết lòng với bạn bè, quan tâm tới những người thân quý. Anh thấu hiểu, sẻ chia bằng tấm chân tình.

Cái nhìn ấm áp và dịu dàng

Trong bài thơ "Bên cây hoài nghi", ta thấy rõ điều đó. Mặc cây hoài nghi mọc lên, anh không đốn, để bên những đóa hoa chân thật cứ lặng lẽ tỏa hương, anh không trải lòng ra lót đường cho những bàn chân hãnh tiến. Trong đời sống thường ngày, anh thấu rõ tâm địa của những kẻ xu nịnh, cơ hội, anh chứng kiến đủ các tấn tuồng trên sàn diễn cuộc đời, nên anh coi khinh lũ ti tiện, bỏ qua mà bước; để dành cái nhìn ấm áp và dịu dàng cho những gì anh yêu thương, trân quý.

Và tôi vin vào sự bao dung
với ý nghĩ có thể đánh đổi cánh rừng nghi ngại lấy một nụ mầm yêu thương vừa hé
đời mất mát hư hao, đời đẫm lệ
vẫn đáng sống cho nhau khi mặt trời lên

(Bên cây hoài nghi)

Có thể nói, trong con người Bùi Phan Thảo, cái chất Quảng Trị đậm đặc, dù anh cũng nhiều lần phải rời xa nơi chôn nhau cắt rốn để lưu lạc và từ năm 17 tuổi trở đi thì xa hẳn làng quê. Nhưng giọng nói, tố chất và dòng máu của người Quảng Trị thì vẫn luân lưu, vẫn làm nên cái tính cách Quảng Trị chân thật, yêu ghét rõ ràng, thẳng thắn trong hành xử. 

Đối với những người quê gốc Quảng Trị mà cứ chối bỏ quê nhà, mượn quê xứ khác để "làm sang", thì trong mắt anh càng "lùn" thêm cái phông văn hóa đã thấp và cách xử sự tầm thường. Anh cực kỳ tự hào đã được sinh ra, làm con dân Quảng Trị, yêu quê đến rát lòng. Hiểu lòng anh nên suốt 20 năm qua, năm nào báo Xuân Quảng Trị cũng dành "đất" cho anh với những bài tùy bút mềm mại, da diết yêu thương.

Trong những ồn ã của đời sống, những lao xao thường ngày, Bùi Phan Thảo lặng lẽ chọn cho mình một "khoảng lặng". Trong "khoảng lặng" này, theo nhạc sĩ -  nhà báo Nguyễn Thanh Bình, không phải để Bùi Phan Thảo "nhìn ngắm" đời sống, mà để anh âm thầm viết những dòng thơ nghiệm sinh trữ tình như một hành động tinh lọc tâm hồn mình, tự giải phóng mình ra khỏi những thói quen, những cám cảnh của cuộc ngày, để tự trả lời cho mình nhiều câu hỏi riết róng được diễn đạt bằng một ngôn ngữ trữ tình rất riêng.

Ẩn hiện suy tưởng và siêu thực

Theo nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm, chất thơ của Bùi Phan Thảo ẩn hiện suy tưởng và siêu thực. Siêu thực là sự phát triển ở tầm cao của hiện thực. Nếu hiện thực là gốc rễ thì siêu thực là phấn hương… Thơ Bùi Phan Thảo có nhiều bài hài hòa được hai mặt này. Bên cạnh đó, thủ pháp nghệ thuật cụ thể hóa cái trừu tượng và ngược lại cùng những kết hợp từ mới lạ độc đáo thường được Bùi Phan Thảo sử dụng khá nhiều và tạo nên những hiệu ứng thẩm mỹ thú vị. 

Nhà thơ Nguyễn Vũ Tiềm cho rằng: "Đọc thơ Bùi Phan Thảo hơi mệt, có cảm giác như lạc vào khu rừng thâm u, nhiều khi hoang mang không biết đâu là lối chính lối phụ, rất dễ lạc đường. Bù lại đôi khi gặp những bất ngờ thú vị, đó là những câu thơ, đoạn thơ hay, bỗng dưng cái sự "mệt" kia tan biến ngay. Hình như thơ đương đại, hậu hiện đại bây giờ có chung dạng thức như vậy"!

Còn với nhà thơ - nhà nghiên cứu- phê bình Nhật Chiêu thì Bùi Phan Thảo đã hướng tìm một thứ chân chất của thơ. Là bao dung. "Thơ nói rằng mọi chia chẻ chỉ là bề ngoài, chỉ là lầm lỡ trong cái nhìn mù sương. Thơ bao dung nên thơ là tiếng nói của tương thôi...  Thơ đã thôi thúc Bùi Phan Thảo như một con ong thôi thúc những bông hoa, những phù dung đời.Vì thôi thúc ấy mà Thảo viết. Viết - để thôi thúc những nụ vô hình. Vì thơ ca, như tôi hình dung, là mặt đất của những nụ vô hình".

Từ thôi thúc những nụ vô hình đó, thơ Bùi Phan Thảo mang nhiều lớp ngữ nghĩa. Anh chịu khó làm mới mình, làm mới thơ. Anh không thích những câu thơ đèm đẹp, những dối lừa rỗng tuếch, mà với anh, thơ phải luôn gần đời sống. Với anh, cần những câu thơ có "khoảng lặng giữa ngôn từ", yêu những tiếng thơ "nói bằng sự im ắng/ mà vang vọng không bờ bến". Đó là những câu thơ:

Vật vã hoài thai
con chữ rã rời
thơ thấm đẫm cuộc sinh thành đau đớn
còn mắc nợ cuộc đời
còn trời cao đất ấm
thơ tan vào lòng đất
bay lên…

(Tản mạn về thơ)

Đôi khi anh dùng những khổ thơ cổ điển nhưng ngữ nghĩa, hình ảnh chắt lọc đến tinh tế:

Đêm trở lạnh mọc bâng quơ nhánh nhớ
tóc xa người chẳng vội mướt dài thêm…
tay rất ấm và môi trầm rất lụa
rủ rê nhau chết ngộp phía Vân Hồ

(Ngổn ngang thu)

Với những bài thơ dùng thủ pháp hiện đại thì anh có sự cô đọng, tinh túy và chú ý yếu tố bất ngờ, nén để bung bật. Có những câu đọc lên bỗng giật mình:      

Những ngón tay trở về
chạm vào đâu cũng nghe tiếng rạn…
khoảng cách không đo bằng một bàn tay
tìm một bàn tay…
mặc kệ mùa đông thả một chiếc lá nhắc thầm

(Ngày mùa đông bật máu)

Còn khi đã làm thơ lục bát, Bùi Phan Thảo dặn lòng phải chọn chữ cho đắt, chọn tứ cho độc đáo:

Thì nghe buồn gọi mà đi
quảy theo một nải từ bi độ đường
gót mòn mới ngộ tha hương
ô hay, chiếc bóng thiên lương đã gầy

(Biệt khúc)

Bùi Phan Thảo là người tài hoa nhưng cuộc sống buộc anh phải chọn lựa, kể cả biết tạm quên mình đi, quên văn chương đi để dồn sức cho phận sự chính của một người làm báo. 

Nhiều người ở cơ quan Báo Người Lao Động, sau hơn 20 năm mới biết anh là một người chơi guitar vào loại cừ, rành rẽ âm nhạc, văn chương sau những biệt tài về kiến thức như rất giỏi về sử địa, thuộc lòng rất nhiều ca khúc, từ nhạc tiền chiến, nhạc Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, Ngô Thụy Miên, Từ Công Phụng… đến ca khúc bolero hay nhạc miền Bắc những năm chống Mỹ, ca khúc chính trị ở TP. Hồ Chí Minh những năm 1980… 

Với anh, điều quan trọng được là chính mình, gửi hết tâm nguyện cuộc đời qua tác phẩm, lúc có thể thăng hoa trời xanh mây trắng, lúc như tiếng chim đập cánh dưới vực sâu; tất cả đều là hình ảnh, âm vọng của cuộc sống vọng lại, đậu vào trang viết. Từ đó, bên cạnh sự khoan dung, vẫn dễ nhận ra Bùi Phan Thảo với những tâm tư sâu lắng, dự cảm như nhiên.

Bỗng nhận ra sau mùi tê tái
sự ẩn nhẫn của đốm lửa
nỗi buồn của đóa hoa mãn khai
dòng suối rỉ rả đãi bôi
ngọn núi quên mình không so đo cao thấp
mộ bia nằm dưới đáy sông chờ chiếc lưới dân chài
qua cầu mừng thầm chưa ai rút ván
ngôi nhà muốn được an nhiên sao người về buồn thiu

(Ngụ ngôn bảy gánh)

Với anh, đời là khúc hát phù du, Phật nói đời là bể khổ nên "ai cũng chết chìm mà không nói ra đấy thôi". "Bởi cuộc đời quá ngắn, nên xin mơ những giấc mơ dài", bởi sẽ có một ngày hư không "về bên cội, nhận hư không, tuổi hư không"… Phải yêu cuộc đời thật nhiều mới có thể viết những câu thơ như: "Khi đời mình cũng cheo leo đồi dốc/ khi buồn vui cứ hực lên như những đóa dã quỳ" (Đà Lạt).

Trương Nam Hương

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.