Bí ẩn tượng chùa Bộc: Quang Trung hay Đức Ông?

Ngày nay ai cũng đương nhiên nói rằng chùa Bộc (Hà Nội) là ngôi chùa đặc biệt - nơi có tạc tượng thờ Hoàng đế Quang Trung. Chỉ cần google từ khóa “tượng Quang Trung ở chùa Bộc”, ta sẽ thấy hàng loạt bài viết về bức tượng này, mà nguồn thông tin chủ yếu là lấy từ Wikipedia.

Đại khái nội dung viết khẳng định như một niềm tin mạnh mẽ rằng: “Bất chấp sự cấm đoán, truy lùng ráo riết để giết hại, bỏ tù bất cứ ai liên quan tới nhà Tây Sơn của Vua Gia Long triều Nguyễn, tại chùa Bộc, nhân dân vẫn bí mật thờ tượng vua Quang Trung dưới hình thức Đức Ông”.

Đây là một tri thức được hình thành trong quá trình sáng tạo truyền thống ở giữa thế kỷ XX, và cho đến nay, tri thức ấy đã thành chân lý không còn gì để đáng phải bàn cãi. Vậy thực hư của câu chuyện này là thế nào?

quang_trung_tuong- ảnh bình giang.jpg -0
Tượng chùa Bộc. Ảnh: Bình Giang

Quá trình phát hiện “bức tượng lạ”

Nguyên ủy, hè năm 1959, cán bộ Vụ Bảo tồn Bảo tàng phát hiện một văn bia khắc năm Quang Trung 4 (1792) tại chùa Bộc. Năm 1960, cán bộ Sở Văn hóa Hà Nội phát hiện hoành phi “Uy phong lẫm liệt”, và đôi câu đối có bốn chữ “quang trung hóa Phật” và bức tượng khác thường – có một chân trần, mặc áo hoàng bào, lưng thắt đại ngọc, đội mũ xung thiên. Các cụ địa phương kể rằng, bức tượng này thờ một “Đức ông từ Thanh Hóa ra đánh tan quân Thanh”. Ngày 20/4/1962, cuộc họp giữa dân làng và cán bộ văn hóa đi đến kết luận rằng: đây chính là “tượng vị anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ”. Ngày 22/4/1962, cán bộ Trần Huy Bá được sư chùa chỉ cho sáu chữ “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng” khắc phía sau bệ gỗ đặt tượng. Ngày 4/5/1962, Báo Thủ đô Hà Nội còn xác định thêm tượng mặt trắng ngồi dưới là Ngô Thời Nhiệm và vị mặt đỏ là Ngô Văn Sở. Báo Thời mới và Nghiên cứu lịch sử (số 38) cũng đưa tin việc phát hiện pho tượng Quang Trung - người đã đại phá 20 vạn quân Thanh. Nhà sử học Văn Tân công bố bài “Về pho tượng Quang Trung tìm thấy ở chùa Bộc” (trang 26-32) trên số 39 của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. Đây là một bài nghiên cứu chính thức của sử gia hàng đầu công bố trên tạp chí chuyên ngành. Bài viết này ngay khi ra đời đã có ảnh hưởng quan trọng đối với xã hội trong suốt mấy chục năm qua.

Văn Tân khẳng định rằng: Bức tượng đức ông tạc năm 1846 là việc tôn sùng và ca ngợi công đức vua Quang Trung Nguyễn Huệ - vị anh hùng dân tộc  (tr.30), những người tạc tượng đã sử dụng “một chiêu bài mượn Phật ngữ để che mắt bọn quan lại nhà Nguyễn”, ông kết luận: nhân dân làng Khương Thượng thể hiện sự nhớ tiếc triều đại Tây Sơn vì Tây Sơn đã có công giải phóng dân làng khỏi quân Thanh, nên họ thấy cần phải biểu thị sự kính ngưỡng đối với triều đại Tây Sơn và gián tiếp để cho mọi người thấy sự thối tha của triều Nguyễn (tr.31-32).

Để đưa ra kết luận trên, ông đã biện luận ba cứ liệu đã phát hiện. Thứ nhất, câu đối: “động lý vô trần đại địa sơn hà lưu đống vũ; Quang Trung hóa Phật, tiểu thiên thế giới chuyển phong vân”, được đặt thờ hai bên tượng được Trần Huy Bá dịch như sau: “trong động này, không còn mảy may bụi nhơ nào, chỉ chốn non sông đất rộng lớn này còn để lại tòa lâu đài rường cột làm dấu vết; Khi vua Quang Trung đã hóa thành Phật, thì thế giới cõi tiểu thiên gió mây đều cảm động mà chuyển vần”, và được cụ Lê Thước dịch là “sau phá thành quét sạch bụi bậm (quân xâm lăng) trên dải đất núi sông rộng lớn, còn lưu lại ngôi chùa cao rộng; Vua Quang Trung hóa hằng hà sa số (đột nhiên tung ức vạn binh lính) đánh một trận phong vân (một thế trận trong bát trận đồ của Gia Cát Lượng) làm chuyển động cõi trần”.

Văn Tân, sau khi tóm tắt việc quân Thanh tàn sát nhân dân và quá trình vua Quang Trung đánh quân Thanh đã nhận xét: “Mới đọc, có thể tưởng đôi câu đối chỉ nói một vị bồ tát, nhưng suy nghĩ một chút thì thấy đôi câu đối ấy đã ca tụng sự nghiệp của Vua Quang Trung”. Chữ Quang Trung vừa là tên một vị Phật, để tránh việc tai vạ xảy ra (do chính sách tiêu diệt của triều Nguyễn đối với tàn dư Tây Sơn).

Và thứ hai, bức hoành phi “Uy phong lẫm liệt” không phải chữ nhà Phật, mà chỉ thích hợp với sự nghiệp của vị anh hùng. Cho nên, câu đối thứ hai mới ca ngợi: ngài có công “ngang trời dọc đất, giúp nước giữ dân”, công đức của Phật chỉ là từ bi bác ái chứ không thể “kinh thiên vĩ địa” được. Cuối cùng, sáu chữ “Bính ngọ tạo Quang Trung tượng” đã phải khắc kín ở phía sau để tránh bị trừng phạt. Dân làng Khương Thượng tạc tượng Quang Trung trong Chùa Bộc còn là để đối chọi lại với miếu thờ tướng sĩ quân Thanh ở khu Đống Đa. Quá trình sùng kính ấy thể hiện theo thời gian: năm 1835 khắc câu đối “Quang Trung hóa Phật”, năm 1846 tạc tượng Quang Trung, và phải khắc giấu sáu chữ ở trên bệ, với hy vọng một ngày nào đó, nhân dân sẽ giải mã được “bí ẩn Phật ngữ” đằng sau tượng đức ông”. Sau bài viết của Văn Tân, chùa Bộc đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa Quốc gia ngay trong năm 1962.

Những phản biện bị lãng quên

Kể từ sau năm 1962, tượng Quang Trung ở chùa Bộc đã trở thành sử thực, được nhà chùa, nhân dân địa phương, và sách báo nhà nước ghi nhận, sử thực này đã tồn tại cho đến tận ngày nay. Và hầu như không mấy ai biết đến việc năm 1990, Nguyễn Duy Hinh (GS) đã công bố bài “Về một pho tượng chùa Bộc” (Nghiên cứu lịch sử, số 250, tr.38-44). GS. Hinh ngay từ năm 1962 đã quan sát và tò mò với sự kiện phát hiện tượng Quang Trung tại chùa Bộc. Và từ đó, ông đã dùng 30 năm để đi điền dã tất cả các tượng Đức Ông tại 65 chùa ở Hà Nội, như chùa Láng, Trấn Quốc, Bụt Mọc, Xã Đàn, Nam Đồng... Ông phản biện rằng, việc diễn giải tượng Đức Ông thành tượng Quang Trung là không đủ căn cứ.

Thứ nhất, các chùa đều có tạc tượng Đức Ông với triều phục, trang trí rồng, lân, giáp trụ,... không khác gì tượng chùa Bộc, đôi khi có chùa còn đặt cả trên ngai, và cũng có tượng để một chân ngoài hia như chùa Xiền Pháp, chùa Lý Quốc Sư, Trích Sài. Việc tượng Đức Ông để một chân trần không phải là chuyện của riêng chùa Bộc. Trong Phật điện của chùa Việt, Đức Ông là người trông coi tài sản, khí vật trong chùa. Ông cũng đưa giả thuyết khác, bộ ba tượng đó có thể là Thổ Địa.

Về hoành phi, GS Nguyễn Duy Hinh phản biện như sau. Bức “Uy phong lẫm liệt” không chỉ có ở chùa Bộc, mà còn có ở một số chùa khác. Chùa Viên Minh có bức này và bức “Duệ khí hiên ngang” đặt ở trên đầu tượng hộ pháp, chùa Cự Châu là “Uy cự trắc”, chùa Trấn Quốc là “Hiển thân uy”... ông khẳng định: “không thể kể xiết những câu hoành trên tượng Đức Ông mang ý uy vũ mà lúc nào ta cũng có thể gán ghép cho Quang Trung”,  (tr.42).

Để phản biện lại cụm “Quang Trung hóa Phật” trong đôi câu đối, ông đã dẫn các chữ “quang trung” cũng xuất hiện ở câu: “Bảo giác quang trung hàm thập hư nhi đãng đãng” tại chùa Trấn Quốc, “bạch ngọc quang trung, đãng đãng lục thông Viên Giác phụ; Hoàng kim điện thượng nguy nguy vạn đức Đại Hùng sư” chùa Bát Mẫu. Những câu đối đi kèm cũng mô tả uy dũng của Đức Ông, ví dụ như: “Tự tả xuất thần uy kinh thiên vĩ địa; Phật tiên thí diệu công hộ quốc bảo dân”.  Ông xác định các câu đối này mang nội dung nhà Phật, và do những người trong thế kỷ XX soạn, chữ “quang trung” đều với nghĩa là chỉ ánh sáng Phật pháp, chứ không có ý nào ám chỉ đến vua Quang Trung cả.

Quay trở lại với dòng chữ “Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng”, ông cho biết: dòng này được viết ra bởi một người chỉ biết chút ít về chữ Hán. Thứ nhất, chữ khắc theo dòng ngang (không theo dòng dọc) từ trái sang phải (chứ không từ phải sang trái). Đây là kiểu khắc của người quen với chữ Quốc ngữ. Thứ hai, câu văn ngô nghê không đúng văn pháp Hán văn. Sau năm can chi không có chữ niên, lại gọi hiệu vị vua một cách trần trụi, và cũng không có đế hiệu. Đây là tri thức tối thiểu của nhà Nho. Thứ nữa, chữ khắc phía sau bệ cũng không có gì gọi là bí mật cả, nhất là so với kĩ thuật yểm tâm của tượng pháp truyền thống. Ông cho rằng, các chữ này khắc thô vụng, lộ liễu. “Nét khắc nham nhở, thô kệch chứng tỏ tay nghề kém, dao cùn, và khá nguệch ngoạc vội vàng”.

Sau bài của Nguyễn Duy Hinh, số 254 Nghiên cứu Lịch sử đã đăng bài của ông Trần Đắc Thọ. Ông phản biện lại GS Hinh, với cứ liệu văn bia. Bia chùa dựng năm 1792 nói về việc xây chùa (trước thời điểm vua Quang Trung mất 6 tháng). Mà đã có chùa thì phải có tượng, suy ra, bộ tượng trên đã có mặt ở chùa từ năm 1792. Câu đối “Quang Trung hóa Phật” là chơi chữ nước đôi, vừa là “trong ánh sáng Phật pháp,” lại vừa ám chỉ vua Quang Trung. Ông kết luận rằng: bộ tượng đã được làm khi vua Quang Trung còn đang ở ngôi và uy tín nhà vua đang ở đỉnh cao nhất. Việc tạc tượng ông ngay khi còn sống, ngay tại trận địa nơi diễn ra trận đánh lịch sử là điều rất hợp lý. Quay trở lại với dòng niên đại, ông Thọ đồng ý với GS Hinh rằng dòng niên đại kia rõ là việc ngụy tạo, gây nhiễu, làm mất bao nhiêu bút mực của các nhà nghiên cứu. Ông cho biết thêm: năm 1961, có cơ quan muốn xin đất quanh chùa Bộc để làm cơ sở, vì sợ mất đất nên người ta đã tung tin pho tượng Đức Ông chính là tượng của vua Quang Trung. Khi cán bộ xuống kiểm tra, để thêm chứng cứ thuyết học, người ta đã có khắc thêm dòng lạc khoản này. (tr.70) Cho nên, nếu ta trách nhà sư chùa Bộc đã bị động trong việc cho khắc mấy chữ này vào sau tượng thì công bằng mà nói, ta cũng phải thấy nhà sư đó đã có công trong việc tiết lộ bí mật của pho tượng.

Trên đây là những tường thuật về cuộc tranh cãi học thuật xung quanh câu chuyện tượng “Quang Trung hóa Phật”. Còn đúng sai cuối cùng như thế nào, xin nhường các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu, khám phá thêm.

Trần Trọng Dương

Các tin khác

Nước Mỹ 25 năm sau ngày 11/9/2001

Nước Mỹ 25 năm sau ngày 11/9/2001

Một phần tư thế kỷ đã trôi qua kể từ buổi sáng kinh hoàng 11/9/2001, loạt hồ sơ vừa được giải mật cho thấy những cảnh báo về Osama bin Laden và al-Qaeda đã xuất hiện từ nhiều năm trước vụ tấn công, đồng thời hé lộ những hệ lụy về sức khỏe mà người dân New York và lực lượng cứu nạn phải đối mặt trong nhiều năm về sau.

Syria - ngọn lửa đang bùng lên từ khoảng trống

Syria - ngọn lửa đang bùng lên từ khoảng trống

Ngày 18/8, Đặc phái viên Mỹ về Syria kiêm nhiệm Đại sứ Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ Tom Barrack cảnh báo: Một sự cố quân sự ngoài ý muốn nào đó hoàn toàn có thể nhanh chóng khiến tình hình khu vực vượt khỏi tầm kiểm soát. Gần 2 năm sau ngày cựu Tổng thống Syria Bashar Al Assad rời khỏi Damascus, khoảng trống quyền lực vẫn chưa thể được lấp đầy, trong khi nguy cơ về sự xuất hiện của cuộc chiến mới lại một lần nữa bùng lên.

Châu Âu vẫn đi trên dây trong bài toán di cư

Châu Âu vẫn đi trên dây trong bài toán di cư

Gần một tháng sau làn sóng người di cư ồ ạt tràn từ Morocco vào vùng lãnh thổ hải ngoại Ceuta của Tây Ban Nha, châu Âu vẫn loay hoay với bài toán khó: kiểm soát biên giới mà không vượt qua những giới hạn pháp lý, nhân đạo và chính trị, dù các diễn ngôn từ Brussels có vẻ đã cứng rắn
hơn.

Ceuta, cuộc khủng hoảng biên giới bắt đầu từ smartphone

Ceuta, cuộc khủng hoảng biên giới bắt đầu từ smartphone

Từ một phán quyết của tòa án bị bóp méo trên mạng xã hội, những hình ảnh được diễn giải sai lệch và tin đồn lan rộng, hàng chục nghìn người đã đổ về Ceuta trong vài giờ cuối tháng 7, tạo ra một cuộc khủng hoảng tại biên giới Tây Ban Nha - Morocco.

Khi Trung Đông tự vẽ lại bản đồ an ninh

Khi Trung Đông tự vẽ lại bản đồ an ninh

Trong gần nửa thế kỷ, thông qua những thỏa thuận về dầu mỏ, tài chính và hợp tác quân sự, nhiều quốc gia Trung Đông đã dựa vào "chiếc ô an ninh" của Mỹ để tập trung phát triển kinh tế. Nhưng, một thỏa thuận quân sự mới được ký vào những ngày đầu tháng 8 này đang làm thay đổi tất cả, mở ra một giai đoạn mới, khi các quốc gia trong khu vực muốn tự bảo đảm an ninh của chính mình.

Giá trị của độc lập, tự do và những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới

Giá trị của độc lập, tự do và những vấn đề đặt ra trong kỷ nguyên mới

Độc lập và tự do là những giá trị có ý nghĩa đặc biệt đối với sự tồn tại, phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc và mỗi con người. Không có dân tộc nào có thể phát triển bền vững nếu không có quyền tự quyết đối với vận mệnh của mình; cũng không có xã hội tiến bộ nếu con người không được sống trong môi trường hòa bình, an toàn, có quyền làm chủ và điều kiện phát triển toàn diện. Đối với Việt Nam, độc lập, tự do là những giá trị được hình thành, hun đúc và bảo vệ qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước.

Phát huy sức mạnh văn hóa để bảo vệ an ninh Tổ quốc

Phát huy sức mạnh văn hóa để bảo vệ an ninh Tổ quốc

Ngày 5/8/2026, Bộ Công an tổ chức Hội thảo góp ý xây dựng “Đề án Phát triển văn hóa Công an nhân dân trong kỷ nguyên mới”. Đề án là sự cụ thể hóa, triển khai thiết thực việc thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị trong lực lượng Công an nhân dân (CAND).

Tăng cường bản lĩnh, nhân văn và đạo đức công vụ của Công an nhân dân trong kỷ nguyên mới

Tăng cường bản lĩnh, nhân văn và đạo đức công vụ của Công an nhân dân trong kỷ nguyên mới

LTS: Trong kỷ nguyên mới, đặc biệt là bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế, để bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Công an nhân dân (CAND) đứng trước yêu cầu phải phát triển theo hướng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm chủ khoa học - công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt mỗi cán bộ, chiến sĩ cần không ngừng nâng cao bản lĩnh, nhân văn và đạo đức công vụ.
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống CAND, Chuyên đề ANTG Cuối tháng trân trọng giới thiệu bài viết của Trung tướng Trần Bá Thiều, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Chính trị CAND về vấn đề này.

Dẹp loạn giang hồ trên không gian mạng

Dẹp loạn giang hồ trên không gian mạng

“Giang hồ mạng” không phải là khái niệm pháp lý, mà là cách cộng đồng gọi những cá nhân gây dựng ảnh hưởng trên mạng xã hội bằng hình ảnh đầu gấu đầu mèo, xăm trổ ngang tàng, phát ngôn gây sốc, khoe tiền bạc, các mối quan hệ hoặc công khai chửi bới người khác bằng những lời lẽ rất vô văn hóa... Việc cơ quan điều tra khởi tố, bắt tạm giam một loạt "giang hồ mạng" như: Khánh "Sky", Hồ Văn Khoa, “Vua Quạt” Trần Đình Tiệp, vợ chồng Huấn “Hoa Hồng”, vợ chồng Phú Lê, “Tế điên" Nam Định thời gian gần đây khiến số "giang hồ mạng" khác có vẻ lo ngại sẽ tới lượt mình nên đã tìm cách thay đổi nội dung. Mạng xã hội vì thế cũng đỡ rác hẳn.

Sóng chiến sự đổ về “Cổng nước mắt”

Sóng chiến sự đổ về “Cổng nước mắt”

Giữa lúc dòng chảy thương mại từ Vùng Vịnh qua eo biển Hormuz bị bóp nghẹt bởi xung đột Mỹ-Iran, một huyết mạch hàng hải khác của thế giới đang đứng trước nguy cơ bị cuốn vào vòng xoáy chiến sự. Căng thẳng Houthi - Arab Saudi tái bùng phát, cùng những cảnh báo cứng rắn từ Tehran, đang đặt eo biển Bab el-Mandeb trước nguy cơ trở thành điểm nghẽn tiếp theo, có thể đẩy cú sốc năng lượng vượt khỏi Trung Đông, lan rộng ra nền kinh tế toàn cầu.

Điều đọng lại ở Ankara không chỉ là NATO 3.0

Điều đọng lại ở Ankara không chỉ là NATO 3.0

Trong nhiều năm sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, câu hỏi thường trực đối với Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) có lẽ vẫn luôn là: Liên minh này có còn lý do để tồn tại? Thực tế thách thức lớn nhất hiện nay với một tổ chức an ninh phòng thủ 77 tuổi đời là có thể thích nghi với một thế giới nơi cạnh tranh giữa các cường quốc trở thành trạng thái thường trực, hàng loạt cuộc khủng hoảng phủ bóng không gian an ninh châu Âu - Đại Tây Dương, và thậm chí là cả sức ép từ những tranh luận về chia sẻ gánh nặng quốc phòng hay các phát biểu gây tranh cãi của Tổng thống Mỹ Donald Trump.

Andy Burnham và một định hình mới cho nước Anh?

Andy Burnham và một định hình mới cho nước Anh?

Nghị sĩ Andy Burnham chính thức được xác nhận là lãnh đạo Công đảng và trở thành Thủ tướng thứ 7 của Vương quốc Anh chỉ trong một thập niên. Với những cải cách đầy tham vọng, liệu người đàn ông đến từ Manchester này có thể tái định hình nền chính trị Anh sau một chuỗi khủng hoảng kéo dài hay không?

Vùng Vịnh lại nằm trong tầm lửa

Vùng Vịnh lại nằm trong tầm lửa

Cuộc đối đầu quân sự giữa Mỹ và Iran một lần nữa đẩy khu vực Vùng Vịnh vào trạng thái bất ổn kéo dài. Dù không phải là các bên trực tiếp khởi phát xung đột, nhiều quốc gia Arab lại đang hứng chịu những tổn thất về an ninh, kinh tế và chiến lược.

Di sản nặng nề của cuộc chiến Mỹ - Iran

Di sản nặng nề của cuộc chiến Mỹ - Iran

Bản ghi nhớ Islamabad giữa Mỹ và Iran đã khép lại 110 ngày xung đột khốc liệt. Tuy nhiên, ngừng bắn không đồng nghĩa với việc những hệ lụy của cuộc chiến kết thúc. Đằng sau tiếng súng là những thành phố tan hoang, hàng nghìn thương vong và những dư chấn kinh tế đang lan rộng vượt xa khu vực Trung Đông.

Những nút thắt phía sau Bản ghi nhớ Islamabad

Những nút thắt phía sau Bản ghi nhớ Islamabad

Tiếng súng đã lắng xuống, những siêu tàu chở dầu đầu tiên đã quay trở lại eo biển Hormuz và Trung Đông đang bước vào giai đoạn hậu chiến. Tuy nhiên, chương trình hạt nhân Iran, tình hình Lebanon và tương lai của eo biển Hormuz vẫn là những bài toán chưa tìm được lời giải cuối cùng, có thể quyết định thành bại của Bản ghi nhớ Islamabad trong thời gian tới.

Để không ai bị bỏ lại trong hành trình chuyển đổi xanh

Để không ai bị bỏ lại trong hành trình chuyển đổi xanh

Hội đồng nhân dân TP Hà Nội đã thông qua nghị quyết quy định chính sách hỗ trợ chuyển đổi phương tiện giao thông đường bộ từ sử dụng nhiên liệu hóa thạch sang sử dụng năng lượng sạch và khuyến khích sử dụng giao thông công cộng trên địa bàn thành phố. Theo đó, thành phố hỗ trợ trực tiếp bằng tiền đối với cá nhân thuộc hộ nghèo có đăng ký “nơi cư trú” hoặc “nơi ở hiện tại” trên phần mềm quản lý VNeID thuộc địa bàn TP Hà Nội do UBND cấp xã xác nhận và chịu trách nhiệm.

Vai trò Pakistan trong việc giải quyết xung đột Iran

Vai trò Pakistan trong việc giải quyết xung đột Iran

Cuộc chiến kéo dài 3 tháng đầu năm 2026 giữa một bên là liên minh Mỹ - Israel và một bên là Cộng hòa Hồi giáo Iran đã đẩy thế giới tới bờ vực cuộc khủng hoảng năng lượng toàn diện và nguy cơ bùng nổ chiến tranh tổng lực tại Trung Đông. Giữa cơn bão lửa, sự xuất hiện của Pakistan trong vai trò kiến trúc sư trưởng cho thỏa thuận hòa bình đã đem đến cho chúng ta góc nhìn mới đầy thú vị về cách mà một quốc gia có thể góp phần xoay chuyển cục diện địa chính trị quốc tế.

Sân khấu chính trị và thể thao

Sân khấu chính trị và thể thao

Ngày hội bóng đá lớn nhất thế giới World Cup 2026 đang diễn sôi động, thu hút sự quan tâm của người hâm mộ khắp thế giới. Nhưng, không chỉ là một sự kiện thể thao, giải đấu này còn trở thành sân khấu lớn mà ở đó giới thể thao và chính trị đã bắt tay giữa những mâu thuẫn và lợi ích.

Tô đậm một vị thế mới

Tô đậm một vị thế mới

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam vừa kết thúc tốt đẹp chuyến công tác tham dự Hội nghị cấp cao kỷ niệm 35 năm quan hệ ASEAN - Nga và có các hoạt động song phương tại thành phố Kazan, Cộng hòa Tatarstan, Liên bang Nga từ ngày 16 đến 18/6/2026 theo lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin. Đây là chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt, đồng thời cũng đã đạt được những kết quả tích cực, khẳng định hình ảnh Việt Nam là cầu nối tin cậy trong ASEAN, là bạn bè thủy chung, chân thành của Nga.