Bài thơ Xuân trong vườn Thiệu Phương của vua Thiệu Trị

"Mới hay muôn vật đều có ý, ân trạch tiền nhân thấm Thiệu Phương", vua Thiệu Trị đã viết trong bài thơ "Thiệu viên xuân sắc" (tập "Cung viên thập cảnh") những câu thơ tưởng nhớ các bậc tiền nhân như vậy.

Vua Thiệu Trị là vị hoàng đế thứ ba của triều Nguyễn. Ông lên ngôi năm 34 tuổi, kế vị vua cha là Minh Mạng và được hưởng một đất nước thống nhất có lãnh thổ rộng lớn, đã có hệ thống pháp luật, hành chính, quân sự, giáo dục đều đã đi vào ổn định.

Ông được sử sách triều Nguyễn mô tả là một hoàng đế thông minh, tận tụy chăm lo việc nước, uyên bác Nho học, yêu thích thơ ca.

Ngày 29 tháng Chạp năm Tân Sửu (1841), vua Minh Mạng qua đời. Hoàng tử trưởng Trường Khánh công tuân mệnh lên nối ngôi vào ngày 20 tháng Giêng năm sau, tức ngày 11/2/1841 tại điện Thái Hòa. Ngay sau khi lên ngôi, vườn Thiệu Phương đã trở nên thân thiết với vua Thiệu Trị.

Vườn Thiệu Phương qua nét vẽ minh họa của người xưa.
Vườn Thiệu Phương qua nét vẽ minh họa của người xưa.

Vườn Thiệu Phương là một trong bốn ngự uyển nằm ngay trong Hoàng thành thời Nguyễn, gồm Thiệu Phương Viên, Ngự Viên, Cơ Hạ Viên, Doanh Châu. Vườn được xây dựng từ năm 1828, thời vua Minh Mạng. Phía Nam vườn là khu nhà hát Duyệt Thị Đường; phía Bắc - qua hồ Ngọc Dịch là Ngự Viên; phía Tây là thư viện Thanh Hạ Thư Lâu (sau đổi là Thái Bình Lâu) và phía Đông là bờ tường phía Đông của Tử Cấm Thành. Quanh vườn có tường gạch bao bọc, cửa chính mở về phía Nam; tổng diện tích khu vườn chừng 6.000m2. Vườn nổi tiếng với kiểu cấu trúc "vạn tự hồi lang" tức có hồi lang hình chữ "Vạn" nằm ở trung tâm chạy ra bốn phía.

Trong những lệnh chỉ đầu tiên vua Thiệu Trị ban ra sau khi lên ngôi, lệnh chỉ về các công việc cần làm trong tang lễ vua cha gồm có 7 điều, trong đó có điều thứ 6 quy định dùng điện Hoàng Phước ở vườn Thiệu Phương (tên vườn nghĩa là nối thơm) làm nơi để tang. Nhà vua dùng các điện Văn Minh, Võ Hiển làm nơi triệu kiến các bề tôi. Đợi khi hết tang, sẽ dời đến ngự ở điện Càn Thanh để coi chầu, nghe việc.

Tháng 3 nhuận năm đó, vua thân làm bài "Thiệu Phương viên thi" (bài thơ này chép trong Thi tập của vua), ban cho các hoàng đệ. Nhân tiện, vua bảo cố mệnh đại thần Trương Đăng Quế rằng: "Hoàng khảo, Thánh tổ Nhân hoàng đế ta, nhờ phúc trời giúp, con cái đông nhiều, anh em ta đều phải đối xử với nhau cho hết đạo, để tu sửa luân thường của loài người mà thôi, cho nên, ta làm thơ tự khuyên răn mình, để cho các hoàng đệ đều tự nghĩ mà khuyến khích cố gắng, giữ tiếng tốt được mãi mãi, khỏi phụ lòng Hoàng khảo ta dạy nuôi, rèn luyện. Còn như câu "Bộ nguyệt thừa nhan thống mạc truy" nghĩa là "cái cảnh hầu cha dạo bước dưới trăng nay không còn nữa, rất lấy làm đau đớn", là để ngụ ý ta thương nhớ cha, cũng muốn cho các em cảm nhớ cha không lúc nào nguôi trong bụng vậy".

Mùa thu năm ấy, tháng 7, sau lễ an táng vua Minh Mạng xong, bộ sử triều Nguyễn, "Đại Nam liệt truyện, Đệ tam kỷ" chép rằng sau đó: "Cây hương trầm Tây dương trồng tại sân điện Hoàng Phước, vườn Thiệu Phương lại nở hoa, mùi thơm ngào ngạt khác thường".

Vua Thiệu Trị thích thú thưởng thức mùi hương của cây trầm hương, bèn sai Nội giám đem ra cho các quan xem và bảo các đại thần rằng: "Thứ hoa này, mùa xuân nở thơm, mùa thu cũng nở thơm, lúc nào cũng tiếp tục có hoa, đúng là nghĩa "Thiệu phương".

Nhớ lại ơn trạch của Tiên đế nhuần thấm đến cỏ cây, vườn hoa còn tươi tốt mãi, mà hồ, núi đã ở kia (Vua Thiệu Trị nhắc đến hồ, núi ở Hiếu lăng, cũng mượn điển tích nói đến đỉnh hồ ở Kinh Sơn, nơi trong truyền thuyết, Hoàng đế thời cổ đại cưỡi rồng lên trời, bày tỏ tình cảm của nhà vua nhân ngắm cảnh, nhớ cha), tháng ngày sao chóng thế! Thấy cảnh thương tâm, xui người cảm khái gợi hứng ngâm vịnh". Vua bèn sai Nội các là Lâm Duy Thiếp tuyên đọc bài thơ của vua làm.

Năm sau là năm Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842), ngày mùng Một Tết, nhà vua mới đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, cầm trấn khuê, đưa quần thần đến cung Từ Thọ làm lễ mừng Thái hoàng thái hậu.

Sau khi thay đồ mặc thường, vua ngự điện Văn Minh, các quan mặc đẹp vào lạy, vua thưởng kim tiền, ngân tiền có thứ bậc. Các quan chức ở bên ngoài Kinh đô, ai bị phạt về tội công, cũng đều được khoan tha. Đó là nghi lễ báo hiệu vua Thiệu Trị chính thức ngồi coi việc nước, sau khi suốt trong năm trước, nhà vua và triều đình vẫn đang trong thời kỳ để tang vua Minh Mạng.

Sử cũng chép, từ tháng Chạp năm trước, ngày nào cũng mưa dầm, gió bấc lạnh lẽo, đến ngày mùng Một Tết hôm đó, sắc trời bỗng nhiên quang tạnh, triều nghi nghiêm chỉnh. Trong lễ triều nghi, quan hai bộ Hộ, Hình là Vũ Xuân Cẩn, Hà Duy Phiên dâng tập Thừa Thiên phủ bìa đỏ, đại lược nói: "Mưa hoà, gió thuận, việc nông thuận lợi, 6 huyện yên tĩnh, làng mạc yên vui!". Vua mừng, bảo quần thần rằng: "Xuân mới, lời tâu hay, đó là một điềm tốt trong buổi đầu nối nghiệp".

Hình ảnh Vườn Thiệu Phương được mô phỏng.
Hình ảnh Vườn Thiệu Phương được mô phỏng.

Sử sách không chép rõ bài thơ "Thiệu Phương viên thi" cũng như bài thơ vua Thiệu Trị làm khi thưởng thức mùi hoa trầm hương ngào ngạt ở vườn Thiệu Phương. Nhưng trong các tập thơ ngự chế của nhà vua để lại, có bài thơ "Phương viên xuân sắc", với lời thơ thanh nhã như sau (phiên âm):

Vũ trụ huyên hòa ái diễm dương,
Thượng lâm vô hạn hảo phong quang.
Doanh đình đào lí thiên chân thú,
Mãn giá thi thư cổ trật hương.
Hoa chức ngô lăng khi cẩm tú,
Liễu thư nhân tự mộ văn chương.
Khả tri vật thái giai sinh ý,
Tiên trạch triêm nhu vĩnh Thiệu Phương
.

Bài thơ này nằm trong tập "Cung viên thập cảnh" thuộc bộ "Ngự đề đồ hội thi tập" của vua Thiệu Trị có in kèm tranh mộc bản, mà trong đó, ta nhìn rõ hình ảnh vườn Thiệu Phương với dãy "Vạn tự hồi lang" độc đáo.

Bản dịch của Lương Trọng Nhàn:

Vũ trụ giao hoà dưới ánh dương,
Cảnh sắc đẹp đẽ vườn Thiệu Phương.
Trước sân đào lý gợi niềm hứng,
Trong nhà giá sách đậm mùi hương.
Hoa dệt lụa Ngô, khinh cẩm tú,
Liễu như dáng người mộ văn chương.
Mới hay muôn vật đều có ý,
Ân trạch tiền nhân thấm Thiệu Phương.

Không nói về mùi trầm hương, nhưng bài thơ cũng gợi rõ niềm thương nhớ của vua Thiệu Trị với các bậc tổ tiên, những bậc quân vương mà "ân trạch đã thấm đẫm cả khu vườn" này.

Vua Thiệu Trị nổi tiếng là một vị vua thi sĩ, có để lại nhiều bài thơ hay, nổi tiếng nhất là hai bài thơ chữ Hán có tên là "Vũ trung sơn thủy" (Cảnh trong mưa) và "Phước Viên văn hội lương dạ mạn ngâm" (Đêm thơ ở Phước Viên). Cả hai bài không trình bày theo lối thường mà viết thành 5 vòng tròn đồng tâm, mỗi vòng tròn có một số chữ, đếm mỗi bài có 56 chữ, ứng với một bài thơ thất ngôn bát cú, nhìn vào như một "trận đồ bát quái", vua có chỉ cách đọc và đố quần thần tìm ra 64 bài thơ trong đó. Hiện nay các nhà ngôn ngữ, học giả đã tìm ra được 128 cách đọc.

Theo nhà nghiên cứu Phan Thanh Hải, vườn Thiệu Phương đã xuất hiện trong khoảng 30 bài thơ Ngự chế của vua Minh Mạng, Thiệu Trị, cho thấy nét đẹp của khu vườn trong quần thể phong cảnh cố đô Huế thời xưa.

Lê Tiên Long

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.