Người nữ trong văn chương Việt

Bài 3: Điệu Lambada trên nền đổi mới

Từ giữa thập niên 1980, cùng với đổi mới toàn diện xã hội, đổi mới văn học đã tạo ra nhiều thay đổi ấn tượng trong cái nhìn về người nữ. 

Ở đó, sau khoảnh khắc cất tiếng thương cảm kiểu con người nạn nhân, thua thiệt và tủi phận bởi chiến tranh, những tác phẩm văn học nghệ thuật sáng giá đều có xu hướng tạo dựng người nữ gai góc, phức tạp trong tính cách và táo bạo, mới mẻ trong lối sống, hành xử thường ngày. Cả hai, dù ẩn dưới lớp vỏ thăm dò phản ứng, vẫn là phép thử khá nhức đầu đối với sự tiếp nhận lúc bấy giờ. 

Con người nạn nhân

Sau chiến tranh, quán tính của văn học sử thi có thể đẩy nhiều tác giả tiếp tục mạch ca ngợi, “tự si” chiến công vĩ đại vừa có, nhưng đồng thời, cũng làm một số tác giả nhanh chóng đứng lùi sau những hào quang chiến thắng, tìm thấy khoảng lặng và trầm tĩnh hơn để quan sát đời sống, nhân sinh. 

Bằng cách đó, họ nhìn thấy những gì dữ dội, khốc liệt, mất mát và đau đớn nhất không chỉ diễn ra trên chiến trường mà còn âm thầm nhưng luôn dai dẳng ở hậu phương, ở phía không đạn bom, không tiếng súng. 

Khá sớm, các nhà thơ đã nhắc đến những thua thiệt, mất mát, những đau khổ khó thốt thành lời nhưng đều là dữ liệu mới cho một sự thức nhận toàn diện về chiến tranh: “Chị thiếu anh nên chị bị thừa ra/  Trong giỗ tết họ hàng nội ngoại/ Bao nhiêu tiếng cười vẫn côi cút một mình/ Những đêm trở trời trái gió/ Tay nọ ấp tay kia/ Súng thon thót ngoài đồn dân vệ/ Một mình một mâm cơm/ Ngồi bên nào cũng lệch/ Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền” (Đường tới thành phố - Hữu Thỉnh). 

Xuân Quỳnh thì nói nhiều đến nỗi cô đơn, bị bỏ rơi, và, bởi là chứng nhân của thời đại quá nhiều chia ly, đã dự cảm tàn lụi tất yếu diễn ra, “tôi biết chắc mùa xuân rồi cũng hết/ Hôm nay non, mai cỏ sẽ già” (Có một thời như thế). Đoàn Thị Lam Luyến chất chứa tâm sự với Lỡ một thì con gái, Lâm Thị Mỹ Dạ thì tự Tặng nỗi buồn riêng… 

Trong văn xuôi, với những Cỏ lau, Mùa trái cóc ở miền Nam, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành của Nguyễn Minh Châu, Chuyện sót lại ở thung lũng Chớp Ri của Nguyễn Quang Lập, Bến không chồng của Dương Hướng, Họ đã trở thành đàn ông của Phạm Ngọc Tiến,…, hình tượng người nữ được khai thác sâu hơn ở chiều bi kịch hôn nhân, hạnh phúc bất thành vì nỗi đoạn trường binh đao. 

Góa phụ, mẹ già, người vợ chờ chồng, người con gái lỡ thì…, tất cả, trở nên đông đảo trong văn chương và tập hợp đó, dưới giọng điệu cảm thương, mới đích thực tạo nên gương mặt thời hậu chiến gian khó, đơn độc và thường xuyên dằn vặt, ưu tư. 

Những sự thật, bao gồm cả buồn đau và nhẫn nhục chịu đựng điều tiếng, bắt đầu hắt lên vai người nữ, và chính họ chứ không chỉ lính tráng trận mạc, mới thấm thía hơn hết dư vị ngậm ngùi, cay đắng trong thời đoạn hòa bình. 

Bao giờ cho đến tháng Mười (1984), tác phẩm lớn của Đặng Nhật Minh, là dấu mốc quan trọng để hôm nay vỡ lẽ thêm về khả năng gượng dậy, tự chữa lành vết thương của những người nữ vốn bị khuôn vào chức trách, bổn phận “hậu phương lớn”. 

Rõ ràng, phụ nữ sau chiến tranh là những người chịu thua thiệt, bẽ bàng mà không an ủi nào, kể cả an ủi trong tưởng tượng, có thể khỏa lấp được: “Ở đằng sau khúc khải hoàn đẹp nhất/ những người đàn bà còn gánh chiến tranh/ những người đàn bà làm cỏ thanh minh/ xanh về phía vết thương chưa lành sẹo(Sinh ở cuối dòng sông).

Mô tả “vết thương” hay thậm chí, “chấn thương” ở người nữ trong văn chương nghệ thuật rộng hơn và phức tạp hơn so với bất kì con số, tổng kết nào trong sử sách. Bi kịch nhỏ, Hậu thiên đường, Bức thư gửi mẹ Âu Cơ, Người sót lại của rừng cười, Xưa kia chị đẹp nhất làng,... lần lượt khía sâu vào nỗi đau khuất lấp, ẩn giấu, cho thấy chiến tranh là một tai ương cuốn mất những phẩm tính nữ thông thường. 

Thấp thoáng cảm hứng phản chiến, Phương của Nỗi buồn chiến tranh có lẽ là hình tượng người nữ đẹp và ám ảnh nhất, không chỉ bởi nhan sắc tuyệt trần, thông minh tuyệt đích mà còn bởi, Phương cũng là hiện thân của nữ tính vĩnh viễn không bao giờ tìm lại được. 

Trong và sau chiến tranh, Phương đều lớn hơn, tự do hơn, vượt thoát ra ngoài mọi ý nghĩ, sức hiểu của Kiên, của giấc mộng anh hùng mà nam giới thêu dệt nên.  

Thách thức và kháng cự

Đời sống kinh tế thị trường những năm đầu đổi mới đã hắt bóng trực tiếp lên mọi trang văn. Nếu thương mại bùng nổ, nói như Philippe Papin, đã làm thay đổi sâu xa tác phong con người thì trong văn chương, giới cầm bút phản ánh thực tế đó một cách rốt ráo nhất ở người nữ. 

Trong thiên truyện Tướng về hưu nổi tiếng, Nguyễn Huy Thiệp đã tạo ra nhân vật Thủy gây nhiều tranh cãi. Việc Thủy lấy nhau thai nhi bỏ đi để nuôi chó béc-giê, ở góc nhìn đạo đức thuần túy, sẽ bị phản đối. Nhưng ở năng lực thích nghi đời sống mới, theo tôi, lại cần thấu đáo thêm. 

Thủy là lựa chọn của nền kinh tế mở, biết cách tạo lập sự chủ động cho mình, từ "cầm trịch chi tiêu" đến chuyện tình cảm ngoài hôn nhân. 

Đặc biệt, với Thủy, ta bắt gặp một truyền thống nội tướng tay hòm chìa khóa, buôn bán nhỏ chưa bao giờ lép vế nhưng đã bị lối sống phụ quyền và chiến tranh kéo dài làm cho mờ đi. Thủy có học thức, lại "am tường các việc lo liệu kinh tế cũng như dạy dỗ con cái", đã đi chệch khỏi các ràng buộc thân phận hay vị trí mà nữ giới thời chiến đảm nhận.

Jayne S. Werner, trong tiểu luận Đổi mới kinh tế ở Việt Nam – một quá trình về giới đã coi người đàn bà này đại diện cho các thói xấu của một số người trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế. 

Giống như nhân vật Lý của Mùa lá rụng trong vườn thông minh quyền biến, dám tách khỏi nếp sống cũ của đại gia đình, thích hội hè làm ăn buôn bán, chủ động li hôn,… Thủy báo hiệu tính bất ổn trong khuôn nhận thức, quy chiếu giá trị nữ giới vào "ba đảm đang" từng có. 

Hơn nữa, Thủy, với cung cách sống chú mục vật chất, tình cảm phóng khoáng, nhạy bén làm ăn và thụ hưởng, đã khẳng định sự tái xuất tầng lớp trung lưu đô thị gần như bị biến mất hoàn toàn trong văn học cách mạng giai đoạn trước đó.

Sự thay đổi lối sống, tác phong khiến người nữ trở thành nhân vật thử thách, kháng cự lại các quy chuẩn ổn định. Một anh hùng từ chiến trường trở về như Sài (Thời xa vắng) đã bị một “vố” điếng người bởi Châu, cô gái Hà thành lõi đời.

Cũng một cựu binh loay hoay mưu sinh bằng cách nuôi chó Nhật nhưng thất bại thảm hại, phải bám víu vào vợ lẫn cô nhân tình hờ (Mi-nu xinh đẹp). Một gia đình toàn đàn ông (Không có vua) trở nên bấn loạn, vô luân khi cô con dâu xuất hiện... 

Xáo trộn và tranh cãi, chấp thuận và từ chối, các cảm xúc trái ngược ấy đã song hành với kiểu nhân vật nữ có khả năng làm mất mặt nam giới, tự đặt mình vào thế khiêu khích cảm quan cũ kĩ, nghiêm trang quá đà. 

Những ca từ đầy chất trào lộng trong nhạc của Trần Tiến (“Ơi cô gái thôn tương Bần có còn mặc áo tứ thân/ Ôi cô gái thôn tưng bừng có còn chơi điệu trống quân/ Đêm trăng sáng đi Tây về quê nhà em chơi điệu lam ba da lam ba da”Lambada quê ta, 1990) hay hình ảnh những “chân dài” trong dòng phim video mì ăn liềìn của Sài Gòn đều mang lại rất nhiều thiện cảm vì sự tươi mới, trẻ trung ở đó. 

Dòng “nhạc nhẹ” hay phim truyền hình nhiều tập thường tạo ra những thước đo thẩm mĩ rất lạ lẫm mà người ta có thể say sưa phổ cập cho nhau, kiểu Sao em nỡ vội lấy chồng, Cho em một ngày, Giọt sương trên mi mắt, Lời của gió… 

Người nữ, như vậy, là nhân tố then chốt khi nghệ thuật muốn đa dạng hóa hình thức giải trí. Và điều này đòi hỏi công chúng phải quen dần với sự cởi mở, nới lỏng trong cách đánh giá, phán xét “phái yếu”.

Những cảnh trong phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”, “Bến không chồng”, “Tướng về hưu”.
Những cảnh trong phim “Bao giờ cho đến tháng Mười”, “Bến không chồng”, “Tướng về hưu”.

Cuối năm 1988, lần đầu tiên sau thống nhất, Việt Nam có cuộc thi Hoa hậu, những tấm lịch tết in hình hoa hậu Bích Phương phát hành rộng rãi khắp nước. Ngắm ảnh diễn viên, hoa hậu bắt đầu là nhu cầu lớn. 

Thời trang cũng thay đổi. Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc, vào năm 1997, đã nhắc đến hiện tượng “xăng xu xăng xi” (sans soutien, sans slip) ở Sài Gòn hồi 1977-1978 và “thả rông” ở một phân số nhỏ “phụ nữ trẻ sinh hoạt phóng đãng”. 

Philippe Papin thì ngạc nhiên vì váy ngắn đã quá phổ biến trong khi ở thời chiến, công an còn kiểm tra ống quần rộng hay hẹp bằng cách lấy chai bia cho vào đó! Những bước chuyển mau lẹ này khiến mỹ cảm trong văn chương không còn quá xa lánh thân thể người nữ. 

Chiều quay của những khám phá về cái tôi, bản ngã, một lần nữa, chạm vào thân thể người nữ như cái cách mà thơ Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư và Ly Hoàng Ly hoặc tinh tế hoặc chân thực, đã diễn tả: “Cảm thấy tiếng gọi lan trên hai bầu vú/ Người đàn bà hổn hển lao về phía con đường bấy lâu chị tránh” (Thiếu phụ và con đường); “Nụ hôn gióng căng ngực miền trắc ẩn” (Do dự); “Mở mãi, muốn mở mãi/ Mà bầu ngực vẫn trắng, không đêm/ Mở mãi, muốn mở mãi/ Bầu ngực này căng đêm” (Mở nút đêm)… 

Chưa bao giờ, các bộ phận cơ thể như “môi”, “mắt”, “lưỡi”, “thịt da”, “chân”, “đùi”… lại hiển thị với tần số cao như vậy trong thơ. 

Chứng cứ của một cuộc bùng vỡ cảm giác thiên về nhục cảm ấy, cố nhiên không hề dễ dập tắt, sẽ phá vỡ các bức tường ngăn cản khao khát, đòi hỏi được sống bằng vẻ đẹp tự nhiên khỏe khoắn, lành mạnh. 

Như một châm ngôn, của Eva phải thuộc về Eva, đấy là lúc các tác giả nữ sẽ giành quyền viết về chính mình, đông đảo và gấp gáp, quyết liệt và táo bạo đến khó ngờ.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?