Ba áng thơ của tác giả "Tiếng Việt"

Đối với một đời thơ, một người làm thơ có một, hai câu thơ hoặc một bài thơ được nhớ, đã là quý. Nếu có nhiều câu thơ, một bài thơ hoặc một chùm thơ được nhớ, còn quý hơn nhiều. Ấy là một, hai câu thơ, một bài thơ, một chùm thơ hay. Ấy cũng là mong ước của nhiều người làm thơ.

Thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ là một trường hợp đặc biệt. Cách nay đã hơn 70 năm, khi còn sống và chiến đấu ở chiến khu Đ, ông đã có "Nhớ Bắc". Cả bài thơ chỉ có 16 câu, trong đó có hai câu: "Từ độ mang gươm đi mở cõi/ Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long" từ lâu đã có sức sống bền lâu trong lòng người đọc, làm nên "thi hiệu" Huỳnh Văn Nghệ. Sau này, dẫu nhiều người có nhớ nhầm thành "Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long" thì giá trị thực và ảnh hưởng của chúng cũng không thay đổi là mấy.

Thời chống Pháp, chúng ta có những nhà thơ một bài. Nhưng trước đó, ở thời Thơ Mới và sau đó, ở thời chống Mỹ, số lượng nhà thơ có hơn một bài, ngày một đông đảo hơn. Một trong số ấy là nhà thơ Lưu Quang Vũ. Và với tôi, ngoài "Tiếng Việt" đã làm nên tên tuổi Lưu Quang Vũ, chí ít anh còn có: "Trung Hoa", "Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn" và "Không".

Tôi nhớ lúc sinh thời, quãng đầu những năm 80 của thế kỷ trước, thi sĩ của Trường Sơn Phạm Tiến Duật khi mới đọc bản thảo "Trung Hoa" ở một quán cà phê đầu phố Trần Quốc Toản, cách trụ sở Báo Văn nghệ không xa, đã gật gù, nhận xét chân tình: "Bây giờ, nếu có một cuộc thi thơ, viết về đề tài Trung Hoa, chắc hẳn không có ai hơn Lưu Quang Vũ. 

Dường như cái chất văn hóa Trung Hoa và con người Trung Hoa nói riêng và cái chất Trung Hoa nói chúng đã ngấm vào Lưu Quang Vũ từ thủa thiếu thời, từ lúc nào không hay. Phải nhiều năm sau, sự ghìm nén ấy mới được giải thoát thành thơ". Rồi Phạm Tiến Duật đọc: "Trung Hoa của tuổi thơ/ Tiếng ngựa hí đêm khuya/ Đoàn xe Chiến Quốc đi trong tuyết/ Rũ rượi tóc râu, đao thương sáng quắc/ Não bạt thanh la xủng xoẻng/ Dữ tợn mà sầu thương/ Bờ sông trắng hoa dương/ Chia ly buồn đứt ruột/ Dậm chân hát mà từ biệt…". 

Rồi Phạm Tiến Duật đọc tiếp, giọng nhấn nhá hơn: "Những mắt xếch Võ Tòng/ Những đầm sâu Thủy Hử/ Người đi như nước đông như cỏ/ Sáng suốt mà tối tăm/ Uyên thâm mà nhẹ dạ/ Tin ngay mọi điều, dám làm tất cả/ Cái người Tàu kỳ lạ/ Ngồi dầm củ cải giữa canh khuya/ Lòng kiên nhẫn của người/ Trải dài trên mặt đất/ Ở bất cứ nơi nào có khói…".

"Trung Hoa" được viết từ năm 1974, khi ấy người Trung Hoa chưa đến một tỷ người, bằng chứng là trong bài thơ có câu: "Chín trăm triệu người ồn ào mà nín lặng". Ở khổ kết của "Trung Hoa", tứ thơ bất chợt có hậu trong tình cảm của tác giả hơn bao giờ hết: "Trung Hoa khổng lồ, Trung Hoa đau thương/ Mai tan hết mây mù mưa xám/ Trung Hoa Võ Tòng, Trung Hoa Lý Bạch/ Lại là Trung Hoa từ tuổi nhỏ ta yêu…"

Trong "Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh", nói về những cuộc chia tay thời loạn" - một bài thơ có tên gọi dài vào loại kỷ lục trong làng thơ Việt Nam (19 từ), Lưu Quang Vũ đã tạo ra một khung cảnh ma mị, ám ảnh khác thường ngay giữa những người bạn rất gần gũi, thân thuộc của ông khi áp mặt với chiến tranh: "Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc/ Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy/ Chăn rách chiếu manh quần áo lạ/ Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say…". 

Cả những câu: "Bạn bè tan hoang mình rã rời"; "Thơ hay thời loạn chẳng đâu dùng/ Vườn cũ cây tàn chim chết cả/ Người chơi đàn nguyệt có còn không"; "Tối đen thành phố đêm lưu lạc/ Máy bay giặc rít ở trên đầu/ Ba đứa da vàng ngồi uống rượu/ Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu"; "Lòng như vầng trăng nhọn/ Chém giữa trời không nguôi"… cũng gợi về sự hoang tàn, đổ nát, không yên trong lòng mỗi người. Đó là những câu thơ không dễ viết hoặc không dễ gì viết lại được. Dường như chúng được sinh thành từ một sự hốt nhiên nào đó. Những câu nặng chất so sánh - liên tưởng: "Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu", "Lòng như vầng trăng nhọn"… không đọc thì thôi, còn hễ đọc lên, là nhớ ngay lập tức.

Bằng "Không" - bài thơ có tên gọi ngắn nhất và không thể ngắn hơn trong làng thơ Việt Nam (một từ), Lưu Quang Vũ đã sở hữu một tứ thơ độc đáo: Một khi không còn gì để nương tựa, để bấu víu, để hướng tới, cũng như không có gì để tin, để không tin, để yêu để ghét, để sống để chết… thì cũng giống như một người sống không mục đích, không động cơ vậy. Có một cuộc đời như thế, dù ngắn hay dài, thiết tưởng chẳng có gì nhàm chán hơn. Khi ấy, thời gian như không còn biết dùng để làm gì. Một khi thời gian không biết dùng để làm gì, thì thật đáng sợ. Bài thơ có cả thảy mười tám câu, nối liền một mạch:

Không có làng quê nào để từ bỏ
Không có thành phố nào để đến
Không có vật quý nào để mất
Không có thư ai để chờ
Không có hòn đảo nào để phát hiện
Không có thành quách nào để chiếm lĩnh
Không vị thần nào để tin
Không quỷ ma nào để sợ
Không thuộc bài hát nào để tự hát lên
Không có góc tối nào để một mình giấu mặt
Không có người con gái nào để thương yêu
Không có người đàn ông nào để trọng
Không có kẻ thù nào để ác
Không có tội lỗi nào để phạm
Không có cả một nỗi buồn để khóc
Cũng chẳng có chiến lũy nào để chết
Chúng ta làm gì cho hết buổi chiều nay?

Cả bài thơ dồn lại ở câu kết dằn vặt và xót xa, dồn nén và sâu sắc: "Chúng ta làm gì cho hết buổi chiều nay", còn những câu trên như chỉ được sử dụng làm chất dẫn. Câu: "Chúng ta làm gì cho hết buổi chiều nay" là một trong những câu thơ hay của Lưu Quang Vũ. 

Qua bài thơ này, tôi nghĩ thêm: Thời gian có thể là vị thánh nếu ta được tận dụng được nó và được nó ủng hộ và có thể là con quỷ nếu ta không tận dụng được nó và không được nó ủng hộ. Cho nên, không phải vô cớ mà có một nhà thơ đã viết: "Tôi trôi giữa đôi bờ: Được - mất/ Vị thánh và con quỷ thời gian".

Đọc "Không", tôi càng tin: Đôi khi một bài thơ chỉ nương vào một đơn vị câu, mà "đứng" được, là thế. Rồi tôi cũng hiểu vì sao nhà lý luận, phê bình văn học Lưu Khánh Thơ lại chọn một chùm thơ 5 bài của anh ruột chị, gồm: "Trung Hoa", "Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn", "Không", "Mặt trời trong nước lạnh", "Cuốn sách xếp lầm trang" gửi cho Nhà văn và Tác phẩm khi Tạp chí có ý định mở thêm chuyên mục "Thơ hay đọc lại".

Đọc "Trung Hoa", "Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia tay thời loạn", "Không", tôi càng tin một cách chí lý: Thơ là những khoảnh khắc bừng rộ của tâm trạng và nó là thứ có tác dụng "nghiền nát", không chỉ đơn giản là "nghiền ngẫm" như một nhà nghiên cứu, phê bình văn học người nước ngoài đã viết mà tôi tiếc không còn nhớ tên.

*

Trong những năm từ 1978 đến năm 1987, trước lúc Lưu Quang Vũ đi về thế giới bên kia, tôi có may mắn gặp anh cả chục lần. Lúc thì ở 96 phố Huế. Lúc thì ở Báo Văn nghệ. Lúc thì ở Tạp chí Sân khấu. Lúc thì ở một vài nhà hát, rạp hát…

Có lần khi thấy tôi quan tâm đến bài thơ "Vai phụ" của một nhà thơ trẻ đăng trên Tạp chí Sân khấu, anh bảo: "Cũng là nảy chữ thôi, đơn giản thôi mà, nhất là ở hai câu: Cả đời tôi chuyên đóng vai phụ/ Nhưng tôi không phụ nó bao giờ. Em cần phân biệt giữa thơ đăng tải và thơ in. Thơ đăng tải đôi khi chỉ ào ào, thoáng chốc, nhất thời… Còn thơ in mới là thứ lắng lại, mới đáng được xuất bản, may ra thì được nhiều thời". 

Khi tôi nói đến phong cách, anh bảo: "Phải có cốt cách và có tài nữa, mới có phong cách. Một người viết mà không đáp ứng hai đòi hỏi trên thì đừng bao giờ bàn đến phong cách, mơ đến phong cách làm gì". Một lần, trước cửa Báo Văn nghệ, anh chỉ tay về phía một người và nói giọng thừa tự tin: "Ông ấy đấy! Điệu đàng lắm! Khệnh khạng lắm. Nhưng mà giờ đã hết thời rồi!".

Có đến gần một thập kỷ, Lưu Quang Vũ là một hiện tượng trên sân khấu kịch nói Việt Nam. Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, có đêm ở Hà Nội, có đến 4 - 5 nhà hát, rạp hát công diễn kịch của anh. Nhiều đoàn kịch nhà có kịch bản của anh mà tồn tại được. Anh đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật với tư cách là soạn giả, người viết kịch. Nhưng với anh, như một lần, Lưu Khánh Thơ đã nói: "Cả đời, Lưu Quang Vũ luôn coi trọng thơ. Anh tôi luôn coi thơ là sự nghiệp sáng tác quan trọng của mình. Anh tôi rất vui khi viết được một bài thơ tâm đắc".

Nêu thế để thấy: Lưu Quang Vũ là người luôn "năm ăn năm thua" với thơ và là  một thi sĩ đích thực. 

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.