Áo tơi khoác cả một... khoảng trời văn hóa!

Xứ Nghệ là nơi áo tơi được dùng phổ biến nhất đến mức có hơn một làng nghề "chằm áo tơi". Con người nông dân nơi đây mộc mạc, cần cù, chân chất phải ứng phó với gió Lào bỏng rát, với giá rét, mưa giông… nên một thứ bảo vệ thông dụng, hiệu quả, rẻ và bền là áo tơi.

"Còn gió Lào, còn mưa giông thì còn áo tơi". Câu nói ấy của nhiều người dân Nghệ khẳng định áo tơi đã trở thành một mã văn hóa quen thuộc sẽ sống mãi với thời gian.

Áo tơi khoác cả một... khoảng trời văn hóa! -1
Áo tơi xứ Bắc Kỳ năm 1921 (Ảnh tư liệu thời Pháp thuộc).

Dễ hiểu, cũng ở vùng này có hai nhạc phẩm hay viết về hình tượng áo tơi, một là "Ca dao em và tôi" của cố nhạc sĩ An Thuyên: "Cùng em khoác chiếc áo tơi ra đồng/ Dù trời đổ nắng chang chang vẫn quàng/ Để nghĩa tình đừng nhạt đừng phai/ Thương nhau rồi đừng cởi áo cho ai…". Lời hát chân thực, nói đúng về hình tượng: "Dù trời đổ nắng chang chang vẫn quàng", tức mưa cũng quàng, nắng cũng quàng… Thêm sự luyến láy da diết của ca từ dễ tạo nên sự đồng cảm để cùng nhau trở về cái thời… áo tơi.

Hai là "Áo tơi" của nhạc sỹ Hoàng Anh phỏng thơ Nguyễn Đăng Độ: "Bốn mùa xuân hạ với thu đông/ Áo tơi quàng lưng cha lưng mẹ/ Chắn gió heo may, chắn gió trưa hè/ Áo tơi lửng gót chân sen/… Nhớ quê càng nhớ áo tơi/ Dáng mẹ đứng đợi, áo tơi trên đồng"… Được tạc vào cái phông nền trữ tình cảnh vật và bóng dáng những người thân yêu, hình tượng áo tơi trở thành một ký ức cộng đồng của chung tất cả.

Xin được giới thiệu thêm bài thơ "Áo tơi" của Đặng Bá Tiến kiến tạo hình tượng áo tơi thân quen trong nhuần nhụy lục bát, trong nồng nàn thắm đượm tình quê và tự hào về nơi cội nguồn: "Nắng quê giờ vẫn cháy lưng/ Người quê giờ vẫn bạn cùng áo tơi/ Đan chằm bằng lá rừng thôi/ Bao đời dân đã chống trời hiên ngang". Một kết cấu đối hình thức dân dã với công dụng lớn lao (chống trời) đã làm bật ra ý nghĩa sâu xa của hình tượng: "Đi xa ai cũng muốn về/ Câu ca xứ sở tơi che mượt mà...". Hình tượng được đẩy lên thành phạm trù quê hương phổ quát, đã nuôi dưỡng bao tâm hồn lớn lên, trưởng thành: "Bước từ trong bóng tơi ra/ Bao người con của quê ta rỡ ràng"…

Nhưng không chỉ là sự độc quyền nơi xứ Nghệ mà áo tơi có ở bất cứ vùng nông thôn miền Bắc nào, cả trung du, miền núi. Trước 1975, hầu như nhà nào cũng có, đã đi làm đồng là phải có áo tơi. Rất tiện lợi, để tránh nắng mưa, tránh cả nóng, tránh cả rét. Áo nhẹ, khi khoác vào không thấy bí mà vẫn thoáng, không bị hấp hơi hay bị ra mồ hôi như khoác áo nilon ngày nay. Lúc giải lao hay ăn cơm thì trải áo ra ngồi trên bờ ruộng… Còn để làm chăn đắp, để các bà các mẹ đi chợ dùng đùm rau, nhất là để đùm bó lá chè tươi, có khi để mấy ngày mà lá chè vẫn tươi…

Được làm từ lá cây, thường là lá cọ, lá cau, các bà các mẹ dùng kim khâu chồng thành lớp, lớp nọ xếp lên, gối lên lớp kia, giống như kiểu lợp mái nhà, tất nhiên mỏng hơn nhiều. Chằm xong thành tấm, quây lại, phía trên có dây làm bằng mây để dễ dàng kéo rút lại rồi đeo vào cổ. Ngày xưa áo tơi còn được các thôn nữ thể hiện sự duyên dáng chân quê: "Có duyên dù bận áo tơi/ Đầu đội nón cời duyên vẫn hoàn duyên". Dù choàng "áo tơi", đội "nón cời" mà là người có "duyên" lại thêm chăm chỉ, tốt tính, tháo vát… thì hơn nhiều người bận áo sa mà vô duyên: "Vô duyên dầu bận áo sa/ Áo ra đằng áo, người ra đằng người". Thân thuộc gần gũi như vậy nên hình tượng đi vào dân gian kết thành ca dao nói về tình cảm vợ chồng, gia đình: "Trời mưa thì mặc trời mưa/ Chồng tôi đi bừa đã có áo tơi", đúc thành tục ngữ: "Già đời còn mang tơi đi chữa cháy". Vì áo tơi rất dễ cháy nên phải để nơi xa lửa. Câu tục ngữ là lời răn: làm việc gì cũng phải suy xét nguyên nhân, kết quả/hậu quả có phù hợp, hiệu quả không. Nhất là đã "già đời" rồi, có kinh nghiệm rồi mà làm những việc trái khoáy dễ bị chê cười…

Áo tơi khoác cả một... khoảng trời văn hóa! -0
Bức tranh “Hàn giang độc điếu đồ” của Mã Viễn được phóng to càng rõ có “máy guồng dây” ở cần câu.

Áo tơi ra đời khi nào? Chắc chắn ở thời rất xa xưa, từ khi con người ý thức được việc bảo vệ cơ thể mình.

Bộ môn Khảo cổ học khẳng định cách nay hàng nhiều vạn năm con người biết sử dụng da và lông động vật để tạo ra những chiếc áo choàng thô sơ. Người Homo sapiens cổ đã biết dùng quần áo bằng da và lông thú, rồi bằng vỏ, lá cây để giữ ấm cơ thể. Thậm chí đã biết cách chế tạo giày đi trên lớp tuyết dày từ sợi thực vật và dây thừng. Họ sử dụng kim khâu làm từ xương và ngà voi để khâu vỏ cây, da thú.

Năm 1991 trên dãy núi Alps nằm giữa Italy và Áo, con người vô tình phát hiện xác ướp đông lạnh của Người băng tzi có niên đại vào cuối thời kỳ đồ đá cũ. Mặc dù đã hơn 5.000 năm (từ năm 3.345 trước Công nguyên), nhưng xác ướp gần như vẫn còn nguyên vẹn, mặc một chiếc áo choàng làm từ cỏ dệt và một số mảnh quần áo làm từ các loại da động vật. Rất có thể "chiếc áo choàng" này có họ hàng, anh em với chiếc áo tơi xứ Việt.

Ngày nay, vẫn còn một số thổ dân Úc, Tasmania và các bộ lạc sống trong rừng rậm ở Papua New Guinea dùng áo khoác bằng lá cây như áo tơi của ta nhưng dài hơn, và cũng kém… thẩm mỹ hơn. Trong tập "Lĩnh Nam chích quái" (tác giả Trần Thế Pháp) được biên soạn từ thời Trần, cho biết từ thời thượng cổ, người Việt bắt đầu chống rét bằng áo dệt từ vỏ cây.

Chùm "Truyện Hồng Bàng" của ta cũng tả người dân Việt thời cổ "phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm". Nhiều khả năng những cái áo làm bằng vỏ cây là "tiền thân" của áo tơi sau này. Trong truyền thuyết "Mỵ Châu - Trọng Thủy" có chi tiết Mỵ Châu mặc áo lông ngỗng rồi rải lông dọc đường làm dấu cho chồng tìm mình. Rất có thể chiếc áo lông ngỗng ấy được biến thể rồi cách điệu hóa từ cái áo tơi?!

Trong nhiều sách viết về vua Lê Thánh Tông đều kể giai thoại nhà vua tặng người làm nghề hót phân (dân gian gọi là "mõ sung") đôi câu đối: "Thân ỷ nhất nhung y, năng đảm thế gian nan sự/ Thủ trì tam xích kiếm, tận thu thiên hạ nhân tâm" (Khoác một áo bào đảm việc khó khăn thiên hạ/ Cầm ba thước kiếm tận thu lòng dạ thế gian). "Nhung y" (áo bào tức áo giáp) có hình dáng gần giống áo tơi nhưng được làm từ nhiều mảnh kim loại xếp chồng lên nhau. Ở đây Lê Thánh Tông đã cách điệu hóa chiếc áo tơi của người mõ sung thành áo bào của vị võ tướng. Rất đúng với giọng điệu "khẩu khí đế vương"!

Áo tơi chữ Hán đọc là "soa y". Chữ "y" cổ có bộ "thảo" chỉ nghĩa vỏ cây, vỏ trái cây; cái dùng để bao, bọc đồ vật. Chữ "soa" cũng đọc là "toa", "thoa". Liễu Tông Nguyên (773-819) tự Tử Hậu, nhà thơ nổi tiếng thời trung Đường đã đưa hình tượng này vào bài "Giang tuyết": "Thiên sơn điểu phi tuyệt/ Vạn kính nhân tung diệt/ Cô chu thoa lạp ông/ Độc điếu hàn giang tuyết" (Giữa ngàn non, chim bay tắt bóng/ Trên đường muôn ngả, người vắng tanh/ Trên con thuyền cô đơn, ông già nón lá áo tơi/ Một mình ngồi thả câu trên sông tuyết lạnh). Chỉ 20 chữ nhưng vẽ ra cả một không gian lạnh, cô đơn đến cực điểm. Giữa mênh mông ngàn non, giữa những nẻo đường muôn ngả, không một cánh chim, không một bóng người, chỉ có một ngư ông trên con thuyền nhỏ như muốn câu cả dòng sông tuyết. Tản Đà dịch hai câu cuối thật tài hoa: "Kìa ai câu tuyết bên sông/ Áo tơi, nón lá, một ông thuyền chài". "Thoa" (soa) là cái áo tơi, "lạp" là cái nón. Thường áo tơi đi liền với nón lá. (Việt Nam ta có thành ngữ "áo tơi nón lá" để chỉ cảnh nghèo hoặc người ăn mặc bình dân).

Có thể nhìn bài thơ theo luật viễn cận của hội họa hiện đại. Trên cái phông nền viễn cảnh hoang lạnh đến tuyệt đối, cận cảnh một chiếc thuyền câu, trên đó một ngư ông cũng đang tập trung một cách tuyệt đối vào việc câu cá. Thơ hay đến ám ảnh lại giàu chất tạo hình, được đánh giá là một kiệt tác nên đi vào hội họa. Người minh họa bài thơ bằng bút vẽ nổi tiếng nhất là Mã Viễn (1160 - 1225), danh họa thời Nam Tống, được xếp vào một trong "tứ đại gia" của thời này. Đến nay bức họa vẫn chưa giải mã được hai điểm. Một là cái áo tơi, hình như được làm bằng vải chứ không phải bằng lá cây. Hai là cái cần câu lại có cả cái máy guồng dây, như cần câu thời nay vậy, rất mới. Mái lều nhỏ ở khoang thuyền thì lợp lá, trên mái lều có cái "nón" (lạp). Nhưng tổng thể bức tranh thì thật có thần, rất gợi. Xin mời bạn lý giải thêm!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...