Ấn tượng về hình ảnh và lời nói của Bác Hồ

Bốn lần được được nhìn thấy Bác, nghe Bác nói chuyện là những kỷ niệm sâu sắc nhất của đời tôi.  Lời Bác dạy, sẽ còn là bài học mãi mãi cho tôi, mặc dầu năm nay tôi đã bước vào cái tuổi “bát thập” – tuổi khá hiếm của cuộc đời một nhạc sĩ, một nhà khoa học...

Đã bao nhiêu năm trôi qua, nhưng những lần gặp Bác, nghe Bác nói chuyện vẫn đọng lại mãi trong tôi.

Năm 1949, sau Chiến dịch Biên giới, giữa Việt Nam và Trung Quốc biên giới thông thương, không còn ngăn cách. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay đến chuyện phải đào tạo các giáo viên cho nền giáo dục nước nhà, ngay sau ngày giải phóng Thủ đô. 

Chính vì vậy, Bác đề nghị Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giúp cho cơ sở vật chất để thành lập Khu học xá tại Nam Ninh (tỉnh Quảng Tây) với tên là DỤC TÀI HỌC HIỆU. 

Nhà nước ta đã điều những nhà giáo có tiếng sang làm giáo viên giảng dạy như: Nguyễn Xiển, Ngụy Như Kon Tum, Lê Văn Thiêm, Nguyễn Lân, Nguyễn Khang, Lê Khả Kế, Ngô Thúc Lanh, Trần Văn Giáp.... Các nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu, Phạm Tuyên, họa sĩ Nguyễn Khang... Thế là tôi cùng cả gia đình đều được đến Khu học xá từ năm 1951. Bên cạnh các anh chị em giáo sinh, còn có lớp học sinh nhỏ tuổi của chúng tôi.

Bác Hồ với học sinh, sinh viên Việt Nam - Ảnh tư liệu.
Bác Hồ với học sinh, sinh viên Việt Nam - Ảnh tư liệu.

Tôi nhớ như in, sáng 24 tháng 12 năm 1957, loa phóng thanh của Nhà trường vang lên: “Các em học sinh chú ý, nửa giờ nữa tất cả các em ăn mặc quần áo chỉnh tề, tới tập trung trước cửa đại lễ đường để đón tiếp 1 vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước”. 

Tôi hồi hộp vô cùng, vì cuối tháng 7 năm 1954, khi Phó Thủ tướng Phạm Văn Đồng đi dự Hội nghị Genève (Giơnevơ) về đã ghé qua thăm Khu học xá, tôi là 1 trong 2 thiếu niên được chọn để lên tặng hoa và ngồi ngay cạnh Phó Thủ tướng suốt buổi mít tinh... Chẳng nhẽ lần này lại là Bác Đồng?

Chúng tôi đứng đợi khoảng nửa giờ thì thấy mấy bạn kêu lên: “Đến rồi! Đến rồi .. .”. Từ xa tôi đã nhìn thấy Bác Hồ trong bộ quần áo ka ki màu vàng nhạt, bước xuống xe. “Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch... Bác Hồ muôn năm...”. Tiếng hô vang.. Chẳng còn hàng ngũ nguyên vẹn nữa. 

Tôi người nhỏ bé nên cố lách lên hàng trên và thật may đã quệt được tay mình vào vạt áo dưới của Bác, khi Bác đi ngang qua... Trước đại lễ đường, Bác đứng trên cao nói chuyện với chúng tôi. Thầy Dương Xuân Nghiên, lúc đó là Giám đốc Khu học xá Trung ương cùng ban lãnh đạo nhà trường đứng kế bên.

Sau mấy câu thăm hỏi đầu tiên, Bác quay ra hỏi Giám đốc Dương Xuân Nghiên:

- Trường chúng ta ở đây có bao nhiêu cháu nữ?

Thấy thầy Nghiên lúng túng, Bác phê bình luôn: “Thế là không được. Các cháu nữ có những sinh hoạt riêng của phụ nữ, nên làm lãnh đạo phải quan tâm để giúp đỡ chứ”. Bác còn hỏi thăm và động viên chúng tôi rất nhiều, nhắc nhở chúng tôi phấn đấu học tập, rèn luyện để trở về giúp ích cho đất nước.

64 năm đã trôi qua, nhưng lần đầu tiên được gặp Bác ấy đã để lại trong tôi - một cậu bé 15 tuổi những ấn tượng thật sâu sắc, khó quên... Năm 1958, tôi về nước và học tại Trường phổ thông cấp III Chu Văn An. Lớp chúng tôi là lớp 8G – tập trung các học sinh từ Khu học xá trở về Hà Nội. 

Lớp 8G nằm ngay tầng dưới cùng của tòa nhà chính 3 tầng có cửa sổ nhìn ra hồ Tây lộng gió. Buồn ngủ quá, tôi đưa mắt nhìn ra phía Hồ Tây thì chợt thấy bóng Bác lướt nhanh qua cửa sổ, tôi kêu vội: “Bác Hồ, Bác Hồ”... Rồi các lớp bên cạnh cũng reo lên. Ngay sau đó, toàn trường tập trung để thầy trò chúng tôi nghe Bác nói chuyện. 

Tôi cứ thắc mắc mãi sao Bác không đi thẳng vào cửa chính, qua sân mà lại đi vòng qua lớp học để ra sân trường? Sau này tôi mới biết, Bác đến bất ngờ, không báo trước và công việc đầu tiên là đi kiểm tra khu vệ sinh của Nhà trường. Hôm đó là ngày 31 tháng 12 năm 1958. Bác đã ghi lại trong sổ lưu niệm của Nhà trường:

Các Thầy zạy bảo tốt,
Các Cháu học tập tốt,
Mọi người lao động tốt,
Cả trường đoàn kết tốt

Có lẽ, nhờ lời huấn thị của Bác về nguyên lý giáo dục của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa, mà Trường trung học phổ thông Chu Văn An đến nay vẫn là 1 trong những trường tiên tiến của Thủ đô.

Đó là lần thứ hai tôi được nhìn thấy Bác.

Vì nhà tôi ở tận 22 Yết Kiêu – hằng ngày phải đi bộ quá xa mới tới được Trường Chu Văn An, nên năm 1959, tôi chuyển về học tại Trường Phổ thông 3A (47 Lý Thường Kiệt), mà sau này đổi tên thành Trường cấp 3 Việt – Đức. 

Vì học nhạc ngay từ bên Trung Quốc, nên tôi được Ban Giám hiệu nhà trường cử xây dựng và chỉ huy dàn hợp xướng của trường tới hơn trăm học sinh và dàn nhạc 30 em – vốn là học sinh Trường Âm nhạc Việt Nam -  học văn hóa buổi sáng, còn buổi chiều thì lại về phố Hào Nam để học nhạc. Nhiều bạn trong số đó sau này trở thành những nhạc sĩ có tiếng như: Phú Quang, Trần Đức Lợi, Vũ Thiện Cơ, Nguyễn Thiện Hà... 

Vào khoảng cuối tháng 8 năm 1960, Ban giám hiệu yêu cầu tôi chọn một số bạn trong đội hợp xướng hát hay nhất để đi làm “nhiệm vụ đặc biệt”. Mấy ngày sau tôi mới được biết là phải cho các bạn tập hát trước các ca khúc: “Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam”, “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”, “Lá cờ Tháng Tám”... để cùng học sinh lớp 10, sinh viên của các trường khác và một số thanh niên tham gia dàn hợp xướng chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III tại vườn Bách thảo Hà Nội.

Tối mùng 3 tháng 9 – trước ngày khai mạc đại hội 2 ngày (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III họp từ ngày 5 đến 10 tháng 9 năm 1960), chúng tôi tập trung tại vườn Bách thảo để tham dự buổi lễ của Hà Nội, chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc. 

Lên đến nơi, tôi trố mắt ngạc nhiên khi thấy bục bằng gỗ cho dàn hợp xướng quá lớn, dành cho 800 người đứng, dựng ngay trên sân cỏ trong vườn bách thảo. Đây là đội hợp xướng có quân số lớn nhất chưa từng thấy ở Việt Nam, tính đến năm 1960. Phía trước chúng tôi là dàn nhạc giao hưởng với 114 nhạc công mới được thành lập chưa đến 1 năm, mà người chỉ huy là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu – người đã dạy nhạc cho tôi từ năm 1951 tại Khu học xá Nam Ninh.

Tôi nhớ chúng tôi tập được với dàn nhạc vài lần bài “Ca ngợi Đảng Lao động Việt Nam”,“Ca ngợi Hồ Chủ tịch”... thì bỗng nhiên tiếng vỗ tay rào rào vang lên, xen lẫn tiếng reo: “Bác Hồ, Bác Hồ...”. Bác đi ra từ hướng Phủ Chủ tịch, theo sau là các vị lãnh đạo khác và khách quốc tế sang dự Đại hội Đảng của ta. Mọi người reo hò, hoan hô ầm ĩ. Bác giơ hai tay lên cao rồi hạ xuống như để ra hiệu mọi người im lặng. 

Người mặc chiếc áo lụa màu vàng nhạt, chiếc quần lụa nâu thắt dải rút bình dị và chân đi đôi dép cao su đen quen thuộc. Bác ngồi phệt xuống cỏ xem chúng tôi biểu diễn. Tôi không thể quên được hình ảnh các vị khách nước ngoài thấy Bác ngồi xuống để khỏi che lấp bà con đứng ở phía sau, nên họ cũng phải ngồi xuống theo, chỉ tội nghiệp cho mấy đại biểu nữ nước ngoài, mặc váy bó nên cứ lúng ta lúng túng, nửa ngồi, nửa quỳ...

Nghe chúng tôi biểu diễn xong, Bác đứng dậy, nhận chiếc que chỉ huy từ tay nhạc trưởng Nguyễn Hữu Hiếu và quay lại phía dàn hợp xướng. Bác hỏi rất dõng dạc: “Bây giờ Bác sẽ chỉ huy để Bác cháu ta hát chung một bài nhé. Bài gì nào?”. Chúng tôi gân cổ gào thật to: “Bài Kết đoàn ạ”. 

Cả dàn hợp xướng hát theo: “Kết đoàn chúng ta là sức mạnh, kết đoàn chúng ta là sắt gang. Đoàn kết ta bền vững. Dù sắt hay là gang, mà thép với gang còn kém bền vững. Chúng ta thề phá tan quân thù thực dân, đế quốc sài lang với phe phản động ta đập tan hoang. Tiến tiến mau mau kìa tự do đang reo, vờn trong ánh dương xây đời mới cho dân chủ mới”. Số khách quốc tế thì vỗ tay theo nhịp bài hát. 

Tôi nhớ mãi chỉ hát được đoạn đầu vì Bác đánh đúng nhịp, đoạn sau Bác phấn khởi vung tay nhanh quá bị chệch nhịp của cả dàn giao hưởng và hợp xướng. Thế là Bác, cháu và cả các vị khác quốc tế ồ lên vỗ tay cười vui vẻ. Ngay sau đó Bác và các vị đại biểu đi sang xem các khu vực khác.

60 năm đã trôi qua, nhưng kỷ niệm lần thứ ba gặp Bác, cứ in đậm mãi trong lòng tôi. Ngày nay mỗi lần nhìn thấy tấm ảnh Bác chỉ huy dàn nhạc và hợp xướng của cố nhiếp ảnh gia Lâm Hồng Long, tôi lại thấy hình ảnh của Bác hiện về. 

Một kỷ niệm không thể quên được, mặc dầu nhìn vào bức ảnh, những nhạc công ngồi phía trước như các anh: Phan Phúc, Nguyễn Xuân Hòa, Nguyễn Sắc... là rõ mặt nhất, còn chúng tôi đứng phía xa chỉ là những chấm đen mờ ảo...

Cũng cần phải nói thêm về bức ảnh này.  Tác giả Ngọc Minh có bài báo “Kể thêm bức ảnh Bác Hồ làm nhạc trưởng” đăng trên Báo Quân đội nhân dân số ra ngày 20 tháng 5 năm 2010. Tác giả viết: “Ngay sau ngày bế mạc đại hội, nhân dân Hà Nội tổ chức nhiều cuộc dạ hội liên hoan văn nghệ chào mừng thắng lợi. Tối 11-9-1960, có một cuộc dạ hội mở ở vườn hoa Bách Thảo”... Viết như vậy là sai mà phải là 3 tháng 9. Chính vì vậy mà sau này, từ năm 2010, Hội Nhạc sĩ Việt Nam đã chọn ngày 3/9 là Ngày Âm nhạc Việt Nam.

Ngày 10 tháng 5 năm 1963, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lưu Thiếu Kỳ thăm chính thức Việt Nam và được Bác ra tận sân bay đón tiếp. Sau đó tại buổi mít tinh tổ chức ở Quảng trường Ba Đình lịch sử, tôi đã được nhìn thấy Bác lần thứ tư. 

Tôi nhớ mãi câu nói bình dị và rất Việt Nam của Bác khi giới thiệu Chủ tịch Lưu Thiếu Kỳ với nhân dân rồi Bác nói tiếp: “Những ngày ở thăm Trung Quốc, tôi đã được bác Kỳ gái … tự tay nấu cơm cho ăn”. Bác không dùng chữ “Phu nhân của Chủ tịch” mà dùng chữ “Bác Kỳ gái”. Thật tuyệt vời... vừa dân dã, vừa thân mật, gần gũi, mà lại rất Việt Nam...

Bốn lần được được nhìn thấy Bác, nghe Bác nói chuyện là những kỷ niệm sâu sắc nhất của đời tôi. Lời Bác dạy, sẽ còn là bài học mãi mãi cho tôi, mặc dầu năm nay tôi đã bước vào cái tuổi “bát thập” – tuổi khá hiếm của cuộc đời một nhạc sĩ, một nhà khoa học...

PGS.TS.Nhạc sĩ Lân Cường

Các tin khác

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Về Thoại Sơn thăm đình thần 3 danh hiệu

Trải qua bao thăng trầm lịch sử, đình thần Thoại Ngọc Hầu vẫn giữ nguyên nét cổ kính, uy nghiêm và trở thành “linh hồn” của vùng đất Thoại Sơn. Năm 1990, Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận bia Thoại Sơn là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Một người lặng lẽ sống và viết

Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

“Cuộc đời cho ta quả quýt”!

Trong “Truyện Kiều”, đoạn tả Mã Giám Sinh trên đường đưa Kiều đi, có “độc thoại nội tâm” rất hay: “Về đây nước trước bẻ hoa/ Vương tôn, quý khách, ắt là đua nhau/ Hẳn ba trăm lạng kém đâu/ Cũng đà vừa vốn, còn sau thì lời/ Miếng ngon kề đến tận nơi/ Vốn nhà cũng tiếc, của trời cũng tham/ Đào tiên đã bén tay phàm/ Thì vin cành quýt cho cam sự đời”. Đây là “âm mưu” của Mã Giám Sinh sau khi mua Kiều “ba trăm lạng”.

Giá trị của hòa bình

Giá trị của hòa bình

Ngày ấy mẹ tôi tầm sáu tuổi, chưa biết chữ và sống dưới những tiếng nổ inh tai. Những tiếng nổ từ mấy loại vũ khí chiến tranh - thứ mà thời của chúng tôi ít khi chứng kiến. Mẹ kể, bầu trời dạo đó toàn bóng khói. Những làn khói từ thuốc súng, từ đạn bom, từ mấy ngôi nhà cháy trụi sau trận càn đột ngột.

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Con mối và cái tổ kỳ lạ...

Bởi khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho loài mối phát triển – một đe doạ với sự đục phá nhà cửa, đồ dùng,… nên con mối không được thiện cảm trong văn hóa Việt. Nó thường bò vào ngụ ngôn, không được làm “nhân vật”, chỉ là cái cớ để cốt truyện phát triển.

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Nghệ thuật tạo hình – liều thuốc chữa lành tâm hồn

Giữa nhịp sống gấp gáp của thời đại số, con người khỏe hơn về thể chất nhưng lại mong manh hơn về tinh thần. Khi y học chăm lo tuổi thọ sinh học, câu hỏi đặt ra là: ai nuôi dưỡng đời sống nội tâm? Trong bối cảnh ấy, nghệ thuật tạo hình không còn chỉ là lĩnh vực của cái đẹp, mà trở thành một phương thức chữa lành âm thầm nhưng bền bỉ.

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Hào khí Chu Hưng

Hào khí Chu Hưng

Hạ Hòa (Phú Thọ) vốn là vùng đất địa linh, sơn thủy hữu tình, nơi có Chiến khu 10 và thủ đô văn nghệ trong những năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong đời sống văn hóa, tinh thần của vùng đất này, đền Chu Hưng là công trình tín ngưỡng tâm linh có giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, khoa học, thẩm mỹ; là điểm nhấn quan trọng trong tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương nói chung và văn hóa tâm linh của vùng đất Hạ Hòa nói riêng.

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì hai lần Wislawa Szymborska

Không có gì xảy ra hai lần phản ánh đúng thực tế cuộc sống. Mỗi người chúng ta đều nằm trong quy luật vật đổi sao dời, mỗi người chỉ sống có một lần và chỉ có vậy, số phận con người không lập lại.

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

“Lao xao Yên Phụ tiếng hò gọi nhau...”

Đường Yên Phụ (Hà Nội) chạy dọc theo sông Hồng. Đây nguyên là một đoạn đê cổ, và một phần được sử dụng làm đường Yên Phụ. Đường dài khoảng gần 1,5 km, bắt đầu từ ô Yên Phụ (đầu dốc đường Thanh Niên) chạy cắt qua các phố Cửa Bắc, Hàng Bún, Hàng Than, Hòe Nhai và kết thúc tại phố Hàng Đậu (gần đầu cầu Long Biên). Từ xưa, tên gốc là Yên Hoa. Năm 1841, vì kỵ húy mẹ vua Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa, nên đổi thành Yên Phụ.    

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

"Tung hoả mù" - trong đời sống, văn chương!

Theo nghĩa đen, "tung hỏa mù" là tung ra khói lửa khiến đối phương mất phương hướng, khó phát hiện được mục tiêu. Ban đầu được dùng phổ biến trong quân sự, như là một mưu kế để che giấu quân đội rút lui, di chuyển… Cách này rất thường gặp trong binh pháp cổ Trung Hoa.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Nhà nghiên cứu Nguyễn Trọng Hải: Người giữ hồn quan họ

Thật không ngờ, trong đời sống văn hóa đương đại gấp gáp và bận rộn, đôi khi người ta chỉ lướt qua những giá trị truyền thống thì vẫn có những người lặng lẽ dành tâm sức và cả cuộc đời của mình để bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu. Tôi vô tình có cuộc gặp gỡ quý giá với ông Nguyễn Trọng Hải, là người cung cấp nhiều tư liệu quý cho Thư viện điện tử Quan họ Bắc Ninh.

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Nhà thơ Lê Hồng Thiện: Thơ khiến cho cuộc đời đáng sống hơn

Giữa nhịp sống nhiều đổi thay, Lê Hồng Thiện vẫn lặng lẽ đi qua tuổi 85 bằng một tâm thế đáng ngưỡng mộ: lạc quan, yêu đời và bền bỉ sáng tạo. Thời gian dường như không làm cạn đi nguồn cảm xúc trong ông, trái lại càng lắng sâu, càng nồng cháy.

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Ngọn gió rừng vẫn thổi nơi suối nguồn

Có một vùng quê trung du yên bình nơi Chiến khu 10 xưa đã đi vào thế giới nghệ thuật, lấp lánh, ấm áp những trang thơ, nhật ký và lắng đọng những ân tình sâu nặng đối với nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ. Nơi đây, ông cất tiếng khóc chào đời và trở thành ngọn nguồn gieo mầm cho cảm hứng nghệ thuật. Vùng quê ấy đã trở thành “địa chỉ tâm hồn”, làm nên “suối nguồn” trong mát cho những tác phẩm để đời của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ.

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Tiếng hồn dân dã bên bờ Kiến Giang

Giữa dải đất miền Trung nắng gió, Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) từ lâu được biết đến như cái nôi của những câu hò mộc mạc mà thấm đẫm tình người. Trong đó, Hò khoan Lệ Thủy với nhịp chèo khoan thai, với tiếng đáp tình tứ giữa đôi bờ sông Kiến Giang đã trở thành linh hồn của một vùng đất.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn - đứng trên hai mặt của tình yêu

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã mang đến cho chúng ta những bản tình ca thổn thức, nhưng ông không bao giờ có được hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn. Nhiều bóng hồng lặng lẽ xuất hiện trong đời nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã để lại những giai điệu xao xuyến khôn nguôi.

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Hai con ngựa "lạ đời" trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan!

Nhà văn lớn Nguyễn Công Hoan (1903 - 1977) để lại một gia tài tác phẩm văn học đồ sộ, với hơn 200 truyện ngắn, 30 truyện dài và nhiều tiểu luận văn học. Tài năng và phong cách của ông thể hiện chủ yếu ở thể truyện ngắn.

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Lễ cầu mưa và nét đẹp văn hóa Tây Nguyên

Những dãy núi cao vời vợi cùng những cánh rừng mênh mang của đại ngàn Tây Nguyên là không gian sinh tồn của các tộc người. Sống giữa núi rừng, họ có cách ứng xử tôn trọng và hòa hợp với thiên nhiên cây cỏ, từ đó hình thành nên hệ tín ngưỡng và những nghi lễ tâm linh độc đáo, giàu bản sắc của miền rừng.