Thử bàn chuyện… ma

Quái lạ, đôi khi đọc những bài báo có tính nghị luận, trình bày vấn đề nghiêm túc, không hề bỡn cợt, ấy thế, đọc xong lại cười. Tại sao cười? Vì rằng, trong đó có chi tiết mắc cười/ tức cười/ buồn cười dù cố nén/ nín nhưng rồi người đọc cũng bật lên một tiếng cười.

Cười cho nhẹ đi nỗi niềm ngoài sức tưởng tượng, khó có lường trước mà vẫn cứ xảy ra, cứ như đùa, như trêu, như chọc. Vậy, có phải trí tưởng tượng của nhà văn dù phong phú đến cỡ nào cũng khó có thể đa dạng hơn hiện thực của đời sống chăng? Thí dụ, có bài giật tít cực hấp dẫn lẫn sửng sốt: "Tử vong không phải là chết".

Hỡi cô Hai, lạ tai chửa?

Chuyện rằng, sau khi cha vợ mất, anh Trần Trung Nguyên ở Đồng Tháp đi làm thủ tục khai tử, thế nhưng cán bộ phụ trách lại không cấp giấy chứng tử. Lý do? Bài báo cho biết: "Giấy của bệnh viện ghi "tử vong" chứ không ghi là chết. Tử vong không phải là chết nên chúng tôi không cấp giấy được!". Anh Nguyên hỏi vậy làm thế nào để được cấp giấy chứng tử, người cán bộ này hướng dẫn phải... lên TP. Hồ Chí Minh xin ghi lại vào hồ sơ bệnh án là người bệnh "đã chết" (Báo Tuổi Trẻ ngày 30.7.2017). Cứ tưởng chuyện bịa. Oái ăm còn ở chỗ, dù không đồng tình "tử vong" là chết, sao tờ giấy ấy lại ghi "Giấy chứng tử", chứ không ghi… "Giấy chứng chết"?

20210519_093719_232122_su-so-hai.max-1800x1800.jpg -0
Ảnh: L.G

Về chuyện liên quan đến chết/ tử trong cách nói của người Việt, đến thời điểm này chỉ có mỗi nhà nghiên cứu Bằng Giang làm quyển tự điển “Tiếng Việt phong phú” (NXB Văn  hóa - 1997). Bằng các văn liệu dẫn chứng, ông cho thấy từ mẫu tự A đến Y đều có từ liên quan, cả thảy 1.079 từ/ cụm từ mà người Việt sử dụng để nói về cái chết. Tất nhiên, có thể cũng chưa đủ. Về từ "tử", ông ghi nhận tử an, tử đạo, tử hình, tử hung, tử nạn, tử nghĩa, tử quốc, tử thần, tử thương, tử tiết, tử trận, tử trung, tử tuy, tử vong; kể cả tiếng lóng tử củ, tử hỉ…

À, còn có thêm chuyện này cũng liên quan đến từ tử mà ít ai biết đến. Rằng, năm tháng đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, năm 1946, ở Nam Bộ, thi sĩ chân quê Nguyễn Bính đã về đến Rạch Giá, tham gia sinh hoạt trong hội văn nghệ cứu quốc thuộc Liên khu 9. “Hồi ký Sơn Nam” (NXB Trẻ - 2015) có kể, ngày nọ ở xã nọ có chương trình biểu diễn văn nghệ, thời đó bao giờ trên sân khấu cũng có cột cờ Tổ quốc và đài liệt sĩ trận vong. Đài làm bằng tre, đan hình tam giác như kiểu hình kim tự tháp, nhìn thấy khung phía trước còn trống,  Nguyễn Bính mới bảo tìm lấy cho ông tấm giấy điều, mực tàu và cây cọ để ông viết vài chữ rồi dán lên đó cho trang trọng.

Nguyễn Bính trổ tài phượng múa rồng bay với 4 chữ "Chết mà bất tử". Ban khánh tiết hoan nghênh nhiệt liệt? Thì đây, họ "lý luận" như sau: "Chết là chết, là hy sinh tính mạng, đó là tử. Chết mà bất tử nghe lạ lùng quá. Đổi lại "Vị quốc vong thân" mới được. Mấy làng xã khác đều dùng như vậy, mình đừng đổi cái gì hết" (tr. 229). Nghe nói chắc nụi thế, thi sĩ “Lỡ bước sang ngang” đành ngậm bồ hòn làm ngọt mà… cười như mếu.

Này, từ trường hợp éo le trên, cô Hai ơi, ta thử đặt vấn đề: Nếu đời người như sự vận động của một ngày, vậy, "hết một ngày" cũng hàm nghĩa như "hết một đời"? Muốn trả lời, ta hãy thử bàn về từ ngày xem sao.

Có thể nói, danh từ "ngày" trong tiếng Việt là một từ rất thú vị. “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích cả 4 nghĩa, trong đó có nghĩa: "Thời gian ước lệ của 24 giờ". Hành trình này là sự vận động tính từng giây, từng phút, từng giờ, vậy, nói một cách nôm na là thời gian của một ngày không đứng yên mà di chuyển liên tục. Thế thì, rõ ràng nó đang đi. Đi là bằng đôi chân di chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, hiểu như thế, ta dễ dàng hình dung ra là nếu muốn đi thì ngày phải… có chân chứ gì? Vâng, ngày phải có chân: "chân ngày".

Thiệt ngộ nghĩnh

Tôi quan sát và nhận thấy, ngày như một sinh vật. Thì đây, ngày có đầu, lúc sáng sớm mai lên, gọi "đầu ngày" là nhằm chỉ khoảng thời gian đầu tiên của một ngày. Khoảng cách giữa đầu và chân là lưng, có thể lúc đã ngọ, đã trưa đứng bóng, người ta dùng từ "lưng ngày", tức thời gian ấy đã hết một nửa hay nói cách khác là "giữa ngày/ nửa ngày". Từ đó, thời gian trở đi sẽ dẫn tới "chân ngày", ta hiểu là "cuối ngày". Tức đã xong một ngày của ngày hôm đó, con người bắt đầu nghỉ ngơi, sau một ngày đã làm việc. Cách nói này, cho thấy ngày đã di chuyển thể hiện từ "đầu, lưng, chân".

Và, khi vận dụng vào cách nói mang tính nghệ thuật, cho đến nay với từ "chân ngày", tôi đã thấy chỉ có hai người sử dụng. Lập tức nó đã tạo nên ấn tượng mới mẻ làm phong phú hơn, uyển chuyển hơn cho tiếng Việt. Có thể nhắc đến thi sĩ Hồ Dzếnh với những câu thơ đã ghim vào trí nhớ người đọc: "Trên đường về nhớ đầy/ Chiều chậm đưa chân ngày/ Tiếng buồn vang trong mây/ Chim rừng quên cất cánh/ Gió say tình ngây ngây…".

Chiều/ chiều về là khoảnh khắc đã cuối ngày, ở đây, với từ đưa/ đưa tiễn "Chiều chậm đưa chân ngày" là nhằm gợi lên vai trò tác động của chiều đối với chính nó. Như thế cũng là một cách nhấn mạnh trong buổi chiều ấy, chỉ có "Tôi là người lữ khách" tiễn/ đưa chính tôi, chứ không có thêm một ai khác. Chiều và người cũng nằm trong một tâm thế. Tất cả gợi lên sự đơn côi một hình một bóng, vì thế, phải người "châm lấy khói thuốc"; và lấy "Khói huyền bay lên mây" như một sự bầu bạn.

Về sau, Trịnh Công Sơn cũng vận dụng một cách tài hoa: "Dưới vòng nôi mọc từng nấm mộ/ Dưới chân ngày cỏ xót xa đưa". Khác với "chân ngày" trong thơ Hồ Dzếnh, ở đây, "chân ngày" không còn chỉ là chiều, còn là sự cuối cùng của buổi chiều, chiều đã kết thúc. Ngày đã hết. Hết một ngày. Từ đó, nó được hiểu qua nghĩa phái sinh nhằm khái quát cho một vòng đời/ đời người, chứ không phải vòng quay của một ngày mà là kết thúc vòng quay của đời người, người qua một cõi khác.

Buồn tình chẳng muốn nói ra

Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời

Thiệt éo le, trái ngược với "Buồn ngủ gặp chiếu manh". Vậy, ma ở trong câu này có thể hiểu: "Hồn người chết" (Việt Nam tự điển, 1931); "Sự hiện hình của người chết, theo mê tín" (Đại từ điển tiếng Việt, 1999)? Có phải đồng nghĩa với ma trong câu: "Chính chuyên chết cũng ra ma/ Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng"? Không, ma ở đây chỉ là cách nói nhằm chỉ ai đó, người nào bất kỳ, không xác định cụ thể. Câu đố về mặt trăng, mặt trời ở xứ Nghệ cũng sử dụng cách nói này:

Mặt mẹ như gương như hoa

Mặt cha nhăn nhó nỏ ma nào nhìn

Trong tiếng Việt, dù ma nhưng đôi khi lại nhằm chỉ về người, chẳng hạn, "Ma cũ bắt nạt ma mới" là ỷ thế đã cư ngụ ở đó/ làm ở đó lâu năm, tỏ tường ngóc ngách công việc, xác lập các mối quan hệ, rành rẽ đường đi nước bước, thông thạo mọi nhẽ vì vậy cậy vào lợi thế này bắt nạt người chân ướt chân ráo mới đến. Ngược lại, nếu "Ma mới bắt nạt ma cũ" là ngược đời quá thể, người mới đến lại dám lên mặt, dọa dẫm người cũ. Tuy nhiên, nói đi cũng phải nói lại thì "Sơn ăn tùy mặt, ma bắt tùy người" - chứ gặp ai cũng giở cái thói hoạnh họe, bắt nạt ấy ắt có ngày "dính chấu" bởi biết đâu "ma mới" có ô dù thế lực, tài giỏi hơn mình.

Ở thành ngữ "Ma cây gạo, cú cáo cây đề" thì chẳng có ma/ ma quái gì cả - chỉ là lời cảnh báo những nơi xa xôi, hẻo lánh, vắng vẻ thường có kẻ xấu đang chờ chực nên cẩn thận, thận trọng vẫn hơn. Tương tự, "Ma đưa lối quỷ đưa đường/ Cứ tìm lấy lối đoạn trường mà đi" (Truyện Kiều) chỉ là cách nói về sự mù quáng, mê muội, chẳng khác gì kẻ đó "ăn cháo lú" khiến lú lẫn, không còn sáng suốt nhận ra đúng sai, chính tà. "Ma ăn cỗ" cũng vậy, là chỉ việc làm vụng trộm kín đáo, khéo léo đến độ thần sầu quỷ khốc, không ai phát hiện ra.

Thành ngữ bao giờ cũng là cách nói ấn tượng, phổ cập và mang tính khái quát cao nhất, vì thế có cách nói "bá chấy con bọ chét" liên quan đến ma, xin cô Hai đừng nghĩ thô tục: "Lạnh như l… ma". Nào ai thấy ma mà biết "chỗ ấy" lạnh cỡ nào, phải không? Xin thưa, đây chính là cách nói tắt của thây ma/ xác chết đó thôi. Ma còn có nghĩa là chết, vì thế mới có câu: "Sống quê cha, ma quê chồng". "Làm ma" là làm lễ chôn cất người chết:

Con cò chết rũ trên cây

Cò con giở sách xem ngày làm ma

Ma, dấu vết của nó còn có liên quan đến phong tục xưa của người Việt. Với từ "Ma sống" Việt Nam tự điển, 1931 chỉ giải thích ngắn gọn: "Lễ để trả lệ làng trước khi chết". Không rõ cách thức diễn ra thế nào. Riêng câu "Ma quàn cưới chịu", “Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam” (NXB Giáo dục - 1993) của nhóm tác giả Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hảo giải thích: "Xưa, cha mẹ chết, con cái phải mổ lợn mổ trâu làm cỗ mời làng trả nợ miệng, dân làng đến ăn cỗ rồi mới khiêng người chết đi chôn. Nhà nghèo không có tiền làm cỗ, đành phải chịu tai tiếng và nhờ vài người thân khiêng xác chết đi chôn. Như vậy gọi là "ma quàn". Xưa, trai gái lấy nhau cũng phải làm cỗ mời làng, lo tiền nộp cheo thì mọi người mới công nhận. Người không có tiền lo liệu mọi thủ tục đó đành phải mang tiếng là theo không. Như vậy gọi là "cưới chịu" (tr. 440). Không những thế, sự tang ma ấy còn có liên quan đến cả "Cưới chạy tang" nữa.

Vậy, "ma khô" là thế nào mà có tục phải "làm ma khô"? Trong tập “Chuyện cũ Hà Nội” (NXB Kim Đồng - 2010), nhà văn Tô Hoài cho biết, đại khái, ông bố của Hiền đi làm phu ở Thái Nguyên, chẳng may ốm ngã nước rồi chết, con cháu không rõ cụ thể ngày giờ nào, bèn lấy ngày bố bước chân ra đi là ngày chết. Xưa nay, trong làng, đám tang nhà héo, mình đều có đi phúng điếu nhang đèn nọ kia, nay bố mình chết, có ai biết mà đi lại? Rồi trong đời, mình đã nhiều lần được người ta mời mọc ăn uống nhưng mình chưa có dịp mời lại như một cách đáp lễ họ. Vậy, "Chỉ có lo cái ma khô mới rửa được tiếng và mới có cớ trả nợ miệng, đòi nợ miệng" (tr. 50).

Nhất cử lưỡng tiện. Cũng đầy đủ các nghi thức như mọi đám ma khác, cũng phường kèn, cũng khóc mướn, cũng kinh kệ… chỉ khác là không có quan tài và những ngày đó, cả làng tới nhà chia buồn, rồi gia chủ tiếp đãi cho ăn uống phủ phê, chơi bài bạc tổ tôm, rượu chè uống tràn cung mây say tít mù. Dù nhiều nhà nghèo rách mồng tơi, đến độ "Van nợ lắm khi tràn nước mắt/ Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi" (Tú Xương) nhưng cũng vẫn chạy vạy, vay thêm nợ làm ma khô để được "tiếng ở làng".

Có một điều hết sức thú vị, với từ ma trong tâm thức người Việt thì nó chẳng hay ho gì, chẳng hạn, tinh ma, ranh ma, ma mãnh, ma đầu, ma giáo…; do đó, khi sự vay mượn từ tiếng Pháp cũng có nghĩa na ná khiến ta đôi lúc quên đi đó từ "nhập cư". Thử đọc đoạn thơ của Tú Mỡ:

Ấy là ông Mo Phú họ Ngô

Tục danh trong xã là bô ma bùn

Hình tuy lủn củn lùn cùn

Môi dày trán ngắn răng còn sơn đen

 "Chính tôi đã được lão Vitor Ban mách ràng xưa kia, Xuân Tóc Ðỏ chỉ là một thằng ma cà bông" (Vũ Trọng Phụng)… Rõ ràng, ma bùn: maboul; ma cà bông: vagabond hoặc ma lanh: malin; ma cô/ mặt rô: maquereau; ma nơ canh: mannequin v.v… là những từ vay mượn tiếng Pháp. Rắc rối nhất vẫn là ma ri sến. Ma ri rõ ràng là Marie tiếng Pháp, còn sến? Sến là loại gỗ tốt, gỗ quý, còn có nghĩa sang, nhượng, bán cho; hay nó là cách phát âm từ sen/ con sen là đày tớ gái? Trả lời thế nào? Thiên hạ vẫn còn tranh luận chán chê.

Về ma, độc đáo ở Nam Bộ mới có giống lúa huyền thoại mà dân gian gọi là "lúa ma" - “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích: "Thứ cỏ hay mọc hai bên mép sông, cũng trổ bông như lúa mà nhỏ hột, năm mất mùa cũng nhờ nó mà đỡ đói". Giống lúa này có đuôi rất dài, hạt lúa vừa chín sẽ tự rụng khi có ánh nắng mặt trời. Do đó, ngày xưa khai hoang lập ấp, bà con nông dân phải thức khuya chống xuồng ba lá thu hoạch lúa ma và trở về nhà trước khi mặt trời mọc. “Biên khảo Đất Gia Định xưa”, nhà văn Sơn Nam cho biết thuở ấy còn có nghề "đập lúa ma" tức là chuyên đi khai thác lúa trời, lúa hoang.

Còn có đôi ba từ liên quan đến từ ma của người miền Nam xưa, theo tự vị của ông Huình Tịnh Paulus Của, ta có thể kể đến: "Bộ ma" tức "sổ bộ vẫn còn để tên người chết làm chủ ruộng đất". Cách hiểu này, ta sực nhớ đến "hồ sơ ma" hiện nay đâu đó vẫn còn, tỷ như ai đó đã chết nhưng cán bộ xã, huyện vẫn không xóa tên để hằng tháng ký "nhận giúp" khoản tiền trợ cấp nào đó của người đó.

Đáng sợ nhất vẫn là các "dự án ma", tức dự án ảo, dự án không có thật chỉ vẽ trên giấy chưa làm thủ tục pháp lý, chưa được cơ quan thẩm quyền cấp phép nhưng chủ đầu tư vẫn phân lô bán nền, ào ào thu tiền đến khi bị luật pháp lật mặt, người mua mới bẽ bàng dậm chân kêu trời. Các chủ đầu tư kiểu ba trợn đó hoặc những kẻ cờ bạc, đề đóm, gian thương buôn lậu, tham ô tham nhũng, nhận hối hộ, ngoác mồm ra đớp như hạm dù ních bộn nhưng đồng tiền phi nhân phi nghĩa đó, cuối cùng cũng phải nôn ra, ông bà ta bảo "Tiền ma gạo quỷ". Đố mà giữ được.

Phải vậy không cô Hai?

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Sau những cánh cửa khép kín của Trung tâm Giám định ADN (Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hàng nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đang được giải mã bằng những công nghệ hiện đại nhất. Mỗi tín hiệu di truyền được phục hồi không chỉ là một kết quả khoa học, mà còn mở ra hy vọng đưa những người lính vô danh trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình sau hơn nửa thế kỷ đợi chờ.

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".