Kể chuyện làng mình

Thuở chúng tôi là những đứa trẻ đang lớn, đường làng, đường xã đều lầy đất. Trường cấp 1, 2 nằm trên trục đường chính của xã, bám dọc bờ sông Vĩnh Giang, nơi từ đó, làng mạc tỏa ra sum suê thành chòm thành xóm ở hai bên bờ sông bốn mùa xanh tươi cây trái, mở ra với mênh mông đồng lúa.

Con sông Vĩnh Giang là nguồn chính, từ đó, tỏa ra ngang dọc và men theo tất cả các làng mạc xóm thôn là những dòng sông, con ngòi nhỏ. Làng được ôm ấp, bao bọc bởi sông trước, mương sau, tựa như sông là huyết mạch sống còn. Mặt sau của làng xanh xanh những nẻo vườn cây trái, những bờ soi hoa màu tươi tốt gối đầu lên dòng mương trong mát, êm đềm vỗ về đồng lúa kề bên. Có sông, có mương, bốn mùa người làng lấy nước ăn uống, sinh hoạt, tưới tiêu cho ruộng đồng luôn no đầy ăm ắp vào mùa khô nắng, lại đỡ bị úng ngập trong mùa mưa.

rom-vang-trai-khap-duong-lam-8.jpg -0

Vĩnh Giang từng là một dòng sông cổ. Nhiều tư liệu lịch sử nói về vai trò huyết mạch giao thương quan trọng của sông từ thời nhà Trần. Sông chảy qua địa phận các xã thuộc huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, thành phố Nam Định. Trên khắp cánh đồng Mỹ Trung, Vĩnh Giang tỏa ra nhiều nhánh không tên nối với những dòng mương nhỏ, dọc ngang như vắt lụa êm ái giữa cánh đồng làng. Đi hết cánh đồng chiêm trũng này thì gặp một con đê cao lớn. Trong đê, là bờ bãi rộng dài xanh ngút, nơi con sông Hồng (sông Mẹ, sông Cái) ngày đêm thao thiết cuộn lên dòng phù sa đỏ. Nơi nhận về tất thảy mạch nguồn từ trăm sông chảy về dồn tụ. Bên kia sông Mẹ về phía Đông là Thái Bình. Các cửa sông, cửa mương từ trong đồng nối với sông Mẹ, được khép mở linh hoạt bởi hệ thống van cửa phai, dựa theo nhu cầu tiêu thoát nước trong đồng.

Những dòng mương thẳng tắp từ trong đồng chạy ra đến cửa sông Mẹ, là kết quả của những công trình thủy lợi vĩ đại từng tiêu tốn vô cùng sức người sức của, vào cái thời mà thanh niên, sinh viên trên khắp cả nước hân hoan đi từng kỳ lao động công ích, cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con nông dân. Tôi nhớ mỗi khi có đoàn dân công về làng, nhà nhà thu xếp nhường giường, nhường buồng cho dân công ở, trân trọng như khách quý. Trẻ con vui phơi phới, có khách rồi,  nhà sẽ có bữa tươi. Nhà đứa nào rộng, được nhiều anh chị dân công đến ở là chúng rất sĩ, rất vênh. Bọn con gái được các chị tết tóc xinh, bọn con giai được rửa mặt cho, trông sáng hẳn.

Từ khi có những dòng mương êm mát, vùng chiêm trũng bớt đi nạn ngập úng vào mỗi mùa mưa, lại dẫn được nước từ sông Mẹ về tưới tiêu, bồi đắp phù sa cho đồng ruộng. Cũng từ đó, vùng chiêm trũng cấy được một năm hai vụ chiêm, mùa. Trước kia, khi hệ thống thủy lợi nội đồng chưa có, là chỉ cấy được một vụ lúa chiêm, có khi sắp đến vụ gặt thì bão ập đến. Những khi cả cánh đồng mênh mông lúa đang kỳ đông sữa chìm trong biển nước của trời, thì cả làng cũng ngập trong nước mắt của người. Họa hoằn mới có vài mảnh ruộng có thể gặt chạy lúa non, bà con cuống cuồng chạy gặt như thể cứu nhà đang cháy. Năm ấy y như rằng mất mùa, cả làng rơi vào cảnh chật vật, thiếu đói; đến độ giáp hạt, hợp tác xã phải mở kho phát thóc cứu tế.

Tôi nhớ những buổi trưa nắng nung, đi học về đến Cầu Bơi ở đầu làng, trẻ con rú lên khi nhìn thấy dòng mương ăm ắp dào lên ngọn phù sa hồng thắm. Nước đã về! Bọn con giai bất ngờ quăng cặp, lột quần áo trên người, nhảy tùm xuống giữa dòng phù sa sóng sánh. Bọn con gái xấu hổ chạy dạt ra. Những khi đó thường là đầu thu, ông trời mưa ít đi rồi, lúa cần được tắm nước phù sa để ngọn đòng căng mọng. Còn vào độ cuối đông, thường phơi ải đã nỏ thì ruộng đồng cần nước sông Mẹ dội về để vỡ ải. Có nước thì máy bừa hay con trâu mới thay sức người mà bừa cho ruộng nhuyễn, ngấu. Tháng Chạp đến với chút mưa lay phay, khí xuân xấp xới về ngang ngõ, làng có thể xuống mạ cấy cho vụ chiêm. Mẹ tôi vẫn thường tranh thủ đi cấy cho đến ngày cận Tết, kẻo “mạ đợi ruộng”.

Nhớ cái thời hợp tác xã nông nghiệp, cả một cánh đồng mênh mông thẳng cánh cò bay, tiếng máy cày máy bừa xình xịch, dân có vẻ phấn khởi với phong trào làm ăn tập thể, chia công tính điểm mà phát thóc. Nhưng đói vẫn hoàn đói, cứ tháng ba ngày tám là thấy cái đói hiển hiện trên gương mặt những người mẹ gầy mõ đi, đen sạm lại vì thiếu ăn và lo nghĩ. Trong nhà, đàn bà bao giờ cũng là người lo lắng nhất cho chồng con.

Chiếc máy cày máy bừa sơn màu cam, đỏ nổi bật trên cánh đồng sau vụ gặt chỉ còn là mênh mông đất màu nâu thẳm. Chú công nhân lái máy mặc bộ quần áo màu xanh gọi là xanh công nhân, đội mũ xanh có in hình và chữ màu trắng. Ngày ấy công nhân là hình mẫu mơ ước của mọi người trong xã hội, cũng như giáo viên, như bộ đội. Chiếc áo màu xanh công nhân thì không cần miêu tả nó xanh như thế nào, ai ai cũng biết, tương tự như áo bộ đội, chỉ cần nói là chiếc áo màu bộ đội, không cần nửa từ giải thích thêm. Bọn trẻ con thường thần tượng các chú công nhân lái máy cày. Những cô gái thôn quê ngày ấy chắc cũng tơ tưởng đến “các chú”. Mỗi khi chiếc máy cày xình xịch chạy chậm qua làng, vệt bánh dính bết bùn non hằn lên trên nền đường đất, tất thảy bọn trẻ làng như được đánh thức bởi thanh âm vang động lạ lẫm như đến từ một miền cổ tích. Như khi cả trời đất, xóm làng đang yên ắng đến buồn tẻ mà bất thình lình có tiếng ì ì ầm ầm từ trên trời cao dội xuống, và rồi chiếc “máy bay chong chóng” màu xanh xám hùng dũng quét ngang trên nền trời, để lại một vệt khói dài như con rắn uốn. Có những chiếc máy bay bay thấp đến nỗi một đứa trẻ nào đó sẽ rú lên vì sợ cánh máy bay sẽ quạt tốc mái rạ nhà mình, như một cơn bão quét. Lại có đứa tinh vi nói trạng thì bảo, nó nhìn thấy rõ đầu chú phi công đội mũ, không phải một, mà những là hai chú (?!). May làm sao nó chưa trạng đến nỗi thấy chú phi công cười…

Chiếc máy cày hẳn không đến nỗi khiến bọn trẻ sửng sốt như chiếc máy bay, nhưng cũng đủ hấp dẫn đến độ chúng vỗ tay hoan hô chú máy cày bất cứ khi nào chúng thấy. Và chúng hát: “Cháu xem cày máy/ Cày thay con trâu/ Đường cày đã sâu/ Lại nhanh mà không mệt nhọc/ Mùa về lắm thóc/ Hạt thóc phơi vàng sân/ Ơi chú công nhân/ Lớn lên cháu lái máy cày.…”. (bài hát “Lớn lên cháu lái máy cày” – Kim Hưng). Chú công nhân nghe tiếng hát bọn trẻ thì thích thú cười hết cỡ, huýt sáo điệu nghệ. Bọn trẻ thêm phấn khích chạy theo chiếc máy cày một đoạn đường làng, cho đến khi mỏi chân chúng mới dừng lại. Những cô gái đôi mươi đang giặt áo trên bến sông, nghe tiếng máy cày tới gần thì bất giác đưa tay kéo vành nón cho sụp xuống. Chú công nhân đi ngang, thể nào cũng huýt sáo hoặc buông một câu đùa và bọn trẻ hùa theo gán ghép: “Anh công nhân, chị thôn nữ/ Làng ta no đủ, xình xịch máy cày”. Dưới vành nón, hẳn là các cô gái e lệ đỏ hồng đôi gò má. Cũng có cô mạnh bạo đối đáp lại với chú công nhân hoặc mắng át bọn trẻ, nhưng hãn hữu lắm, thôn nữ họ thường hay ngại.

Ngày ấy, tôi cũng hay ra đứng ở mé vườn, nhìn về phía Tây nơi cánh đồng Bông rộng lớn. Dưới cái nắng mật ong tháng Chín, cả cánh đồng như đang óng ánh hồng lên gương mặt phù sa non mỡ, luênh loang. Mắt tôi dõi theo chiếc máy bừa ban đầu còn ở sát bờ vùng, thật rõ cái màu cam rực lên trong nắng. Giữa cái thời mà người ta đâu đâu cũng toàn thấy những màu đen, nâu, ghi xám, chúng tôi đi học được mặc quần xanh chéo đã là sang, các mẹ ra đồng chỉ rặt một màu đen nhức và nâu đất, thì một chút màu cam, đỏ ở đâu đó cũng thấy tươi vui, sáng láng. Chú công nhân ngồi ung dung trong ô cửa kính vuông vuông. Một mình giữa cánh đồng mà thỉnh thoảng vẫn thấy chiếc mũ lưỡi trai trên đầu chú lắc lư như thể chú đang hát. Khi chiếc máy bừa chạy xa hút về phía cuối cánh đồng, trông nó chỉ còn nhỏ như một chiếc hộp đang lừ lừ chuyển động. Hình ảnh chú công nhân là biểu tượng của một khung trời mới. Hẳn sẽ có nhiều đứa con giai trong làng mơ ước lớn lên được lái chiếc máy cày.

Quê tôi là vùng thuần nông nghèo khó, nhưng chỉ qua cánh đồng làng là chạm chân vào thành phố. Tôi học cấp ba ở ngôi trường nơi cửa ngõ Thành Nam. Chị tôi, mẹ tôi hàng ngày vẫn kĩu kịt oằn vai gánh rau quả vào chợ Khu Tám bán. Đêm đêm, nhà quê tối đen tối thẫm vì không có điện, khung cảnh u tịch càng tô lên nỗi ảm đạm nơi những con người ưa nghĩ ngợi, khát khao. Nhìn qua cánh đồng một dải, là đèn điện giăng mắc tựa sao sa, là mường tượng đến áo hoa, guốc dép xinh đẹp của con gái thành phố. Đứa trẻ mộng mơ trong tôi bắt đầu cựa quậy những ước ao ra khỏi lũy tre làng. Nhất là những khi giỗ tết, bố cho tôi đi ăn cỗ nhà bác họ ở phố Hàng Nâu, có đầy bánh kẹo và hạt dưa, cắn một lúc thì môi đỏ như được tô son vậy. Một trong những bài thơ đầu đời của tôi là “Tự sự”, là để nói về giấc mơ ấy:

“Tôi làm người thơ kể chuyện mình

Ở nơi nào có ngôn ngữ

Có mẹ cha, anh chị, có các em

Tôi làm người thơ hát riêng mình đồng quê của tôi

Có gốc rạ nhọn tôi dẫm vào đau thét/ mà đâm gót chân mẹ, mẹ cười

Có vành trăng treo ngọn tre tôi ngồi mơ mộng/ còn chị thì bật khóc tình yêu đã mất

Tôi hát bình minh dát ngọc sương lên mi cong mắt chớp

Tôi đến trường, mẹ lưng còng bờ rạ

Cho tôi mơ ánh đèn thành phố

Đêm đêm đổ sao xuống cánh đồng làng

Tôi làm người thơ kể chuyện nhân gian…”.

Đến bây giờ, thì có lẽ đúng như bài thơ đã viết. Tôi đi khỏi lũy tre làng để hiện thực hóa mơ ước của đời mình, nhưng tôi vẫn mãi là người kể chuyện làng mình, kể chuyện nhân gian.

Trang Thanh

Các tin khác

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Giải mã ADN: Ký tự di truyền gọi tên người lính vô danh

Sau những cánh cửa khép kín của Trung tâm Giám định ADN (Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), hàng nghìn mẫu hài cốt liệt sĩ đang được giải mã bằng những công nghệ hiện đại nhất. Mỗi tín hiệu di truyền được phục hồi không chỉ là một kết quả khoa học, mà còn mở ra hy vọng đưa những người lính vô danh trở về với tên tuổi, quê hương và gia đình sau hơn nửa thế kỷ đợi chờ.

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".