50 năm trước, tôi viết bài thơ“Lời di chúc của Bác Hồ”

Tôi sinh ở Hải Dương năm 1944 và sống ở Quảng Ninh từ 1962 đến nay, nhưng những sự kiện lớn nhất của đất nước diễn ra, thì tôi đều có mặt ở Hà Nội, và thậm chí trực tiếp được tham gia tại Hà Nội, do nhiều nguyên nhân khác nhau.

Cuối tháng 8 năm 1969, nhà thơ Yến Lan, biên tập viên thơ Nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội gọi tôi về để chữa tập thơ của tôi gửi Nhà xuất bản, dưới sự hướng dẫn của ông, để ông chọn in trong tập thơ dành cho 5 tác giả về đề tài công nhân.

Đêm 2-9, tôi ngồi chờ ở bờ Hồ Gươm để xem bắn pháo hoa. Đến hơn 11 giờ đêm mới báo hoãn, vì có tin sức khỏe Bác Hồ không được tốt. Về Hà Nội, tôi thường ở tại gia đình một lão thành cách mạng mà tôi quen và rất kính trọng, ở phố Ngô Thời Nhiệm, ông rất quí tôi, coi tôi như con. Sau này tôi có câu thơ "Mái phố trăng vàng Ngô Thời Nhiệm/ Tiếng lá sấu rơi làm em giật mình…".

Vì thế, tôi có mặt trong đoàn người của khu phố đi viếng Bác, tập trung từ 5 giờ sáng tại đường Hoàng Diệu, rồi từ từ tiến vào đường Bắc Sơn, đường Hoàng Văn Thụ và nán lại chờ rất lâu tại cửa phía sau bên phải nhà Quốc hội. Thi hài Bác quàn tại đó.

Bài thơ “Lời di chúc của Bác Hồ” được dịch in trên Báo Sự thật Nga Kôngxômôn.
Bài thơ “Lời di chúc của Bác Hồ” được dịch in  trên Báo Sự thật Nga Kôngxômôn.

Trời mưa, bữa trưa và chiều, khu phố chỉ phát cho mỗi người một chai nước và 2 cái bánh mì, mà không ai thấy đói, thấy khát. Đến hơn 11 giờ đêm thì đến lượt đoàn chúng tôi - đoàn cuối cùng được vào viếng - sau đó thì linh cữu Bác được chuyển đi, đồng bào chỉ viếng chỗ Bác đã từng nằm trong những ngày tang lễ.

Sáng sau dự lễ truy điệu Bác tại Quảng trường Ba Đình và chúng tôi, từng nhóm một,  được lần lượt vào thăm nhà sàn Bác Hồ, cứ thế mà đi liên tục theo dòng người. Tất cả đều làm tôi vô cùng xúc động, không thấy đói, không thấy lạnh vì mưa, cũng không thấy mệt mỏi vì chờ đợi quá lâ u và hoàn toàn không ngủ. Lúc đã xong các việc, mọi người trong đoàn tự ý ra về hoặc tham gia các hoạt động tưởng nhớ Bác ở quanh đó, tùy ý.

Tôi ngồi trên bờ hè xây nghiêng bằng gạch chỉ đỏ, trong khu vườn nhà sàn, lấy quyển lịch túi mỏng và nhỏ, cùng mẩu bút chì trong túi áo, chép luôn  bài thơ, hình như đã có sẵn trong đầu, chỉ khoảng 10 - 15 phút là xong. Đoạn kết bài thơ:

Tiểu sử Người không ghi có Huân chương
Cả đất nước Người trao ta làm chủ
Rồi ra đi
Với chiếc áo ka ki đã cũ
Đôi dép cao su
Và mái tóc thương yêu thêm bạc tự trong tù…
Em ơi, đừng quên
Đó cũng là Lời Di chúc của Bác Hồ
Mà Người không viết trong Di chúc…

Tôi đề đúng thời gian nó được ra đời, 9 giờ ngày 9 tháng 9 năm 1969 và nhận ra có đến 5 con số 9 liền nhau.

Bài thơ đã nhiều lần đăng báo, tạp chí rồi in sách trong các tập phong trào về toàn dân kính yêu và nhớ ơn Bác Hồ. Sau đó in trong tập thơ đầu tay của tôi "Đấy là tình yêu", Hội Văn nghệ Quảng Ninh xuất bản đầu năm 1971 - cũng là tập sách dành cho 1 tác giả đầu tiên ở Quảng Ninh. Rồi sau đó vài lần in trong các tuyển tập thơ về Bác Hồ và dăm năm trước đây, in trong bộ sách rất đồ sộ và sang trọng "Bác Hồ với Văn nghệ sĩ - Văn nghệ sĩ với Bác Hồ".

Ngày 19-5-1990, kỉ niệm 100 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Báo Sự thật Kôngxômôn Liên Xô, xuất bản tại Mátxcơva, một số báo đặc biệt, khổ lớn, giấy tốt 80 trang, gộp 10 số lại làm một số. Trong số báo đồ sộ đó (không có quảng cáo) in toàn các bài của các chính khách, các nhà báo, nhà văn, các nghệ sĩ lớn của các nước viết về Bác Hồ, các bài đều ngắn, hầu hết chỉ một phần tư trang, trong đó chỉ duy nhất có 1 bài thơ của tôi, "LỜI DI CHÚC CỦA BÁC HỒ", do nhà thơ Nga Xôviết Ocmohoaa Taanar dịch (thơ ở nước ngoài thường là không có đầu đề), cùng trang với bài bút kí của nhà văn Tô Hoài về phố phường Hà Nội. Đấy cũng là bài thơ đầu tiên của tôi được dịch và xuất bản bằng tiếng Nga, tại Mátxcơva. Đến năm 1992, mới là các bài khác.

Nhớ lại những kỉ niệm đó, tôi vẫn thấy rất xúc động, thêm một lần nhận chân những giá trị lớn lao của Cách mạng, mà vì nó, tôi đã sống và sáng tác suốt cả cuộc đời mình.

Bài thơ  "Lời Di chúc của Bác Hồ" của Nhà thơ Trần Nhuận Minh đăng trên Báo Sự thật Kôngxômôn Liên Xô, số ra ngày 19-5-1990.

Trần Nhuận Minh

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.