100 năm trước, Nguyễn Ái Quốc viết truyện “Con rùa”!

Để chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc từ Moscow đến Quảng Châu, Trung Quốc. Đầu năm 1925, Người mở lớp học chính trị đầu tiên, học viên là những học sinh, trí thức, vài người là tú tài nho học người Việt Nam.

Từ đó đến 1927, có nhiều khóa học diễn ra tại số nhà 13 và 13/1 đường Văn Minh, Quảng Châu (nay là 248 và 250 đường Văn Minh), đào tạo nhiều thanh niên yêu nước từ trong nước sang làm lực lượng nòng cốt cho công tác tổ chức và tuyên truyền cách mạng.

image003.jpg -1
Minh họa cảnh Nguyễn Ái Quốc đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam ở Quảng Châu (1925 -1927).

Ba vấn đề chính được nghiên cứu là: “Nhân loại tiến hóa sử”; “Lịch sử phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc”; “Lịch sử phong trào công nhân quốc tế”. Nội dung chương trình học gắn với những hoạt động thực tiễn như vận động tổ chức công hội, nông hội, công tác hoạt động bí mật, tuyên truyền, v.v…Trong bối cảnh ấy Nguyễn Ái Quốc viết truyện ngắn “Con rùa” bằng tiếng Pháp, in trên Báo Le Paria (Người cùng khổ) số 32 tháng 2 và 3 năm 1925, sau này in trong “Hồ Chí Minh toàn tập”, 2002, tập 2, trang 143.

Truyện chỉ khoảng 800 chữ có cốt truyện: Viên quan sứ hung hãn đã từng chặt 75 cái đầu hào mục xứ Bắc Kỳ, có trát đòi ông Xã - lý trưởng làng Lalo lên hầu. Quá lo lắng và sợ hãi, vợ chồng ông Xã bàn cách mang một con rùa đặt vào cái khay thuê của chính nàng hầu quan sứ, làm quà biếu quan. Khốn khổ, trong lúc ông thưa bẩm thì con rùa thừa cơ bò mất, để trơ ra cái khay. Ngài quan sứ khoan khoái kêu lên: “Ô cái khay đẹp quá thôi! Để ta phải gửi lên biếu quan Toàn quyền mới được!...”.

Đây là một truyện ngắn, ngắn nhất của Nguyễn Ái Quốc.

Đã có nhiều cách hiểu về truyện này. Dưới góc độ xã hội học, có người hiểu truyện tố cáo tên công sứ “tham của đút, ăn chó cả lông”. Đáng lẽ ông Xã chỉ mất con rùa, lại mất thêm cả cái khay bạc. Có nhà nghiên cứu phân tích nhân vật con rùa, coi đó là cái đầu mối của truyện: “Cái con rùa rất nhộn ấy cũng tham gia vào cuộc đấu trí. Con rùa ranh mãnh láu lỉnh ấy chuồn mất để lại cái khay côi cút… Truyện khẳng định sức mạnh của người nông dân thông minh trước bọn thực dân ngu xuẩn”.

Có người cho rằng: “Tên công sứ đã tự vạch trần bộ mặt thật của mình và toàn bộ cái cơ cấu của chế độ thống trị thối nát trong tệ tham nhũng. Tác giả đánh thẳng, đánh trúng vào bộ máy cai trị của chế độ thực dân. Qua truyện ngắn này rõ ràng những người dân nghèo bản xứ nghèo khổ đã thắng cuộc trong cuộc đấu trí với bọn thực dân xâm lược”. Lại có tác giả khác khẳng định truyện có chủ đề chống nạn hối lộ, nạn biếu xén, đút lót đã ngang nhiên diễn ra từ cấp thấp, làng xã, đến cấp cao nhất, công sứ và toàn quyền Đông Dương…

Hầu hết các ý kiến đều nhìn nhận tác phẩm dưới góc độ nội dung phê phán viên quan sứ - đại diện cho chế độ thực dân; ca ngợi trí thông minh của nhân vật ông Xã - đại diện cho nhân dân lao động. Soi chiếu hoàn cảnh, nội dung chương trình lớp học mà Nguyễn Ái Quốc mở và trực tiếp dạy, xin đưa ra một cách hiểu khác.

Trên văn bản chúng tôi không tìm thấy chi tiết nào đủ chứng minh nhân vật ông Xã thông minh để có khả năng “đấu trí” với viên quan sứ cả, chỉ thấy những chi tiết biểu hiện sự băn khoăn, lo lắng, bối rối, sợ hãi của nhân vật ông Xã (xin phép in nghiêng những chỗ nhấn mạnh): “Xem lướt xong lệnh của quan trên, ông Xã gật đầu gãi tai. Ông có vẻ quýnh lắm”.

Đây là chi tiết nói lên sự bối rối của ông khi nói với vợ: “Thế nhưng nhà mình có gì coi được: gà, thỏ, vịt, gà tây, thì đã bán sạch để nộp thuế rồi còn đâu! Lấy gì dâng quan bây giờ?”.

Và sự run sợ của bà vợ ông Xã: “… bà biết rằng ông quan da trắng này dữ tợn lắm, và bà run sợ sẵn khi nghĩ trước cảnh tượng chồng bà sẽ được tiếp đón như thế nào nếu không mang gì đến đấm cái mõm công sứ”. Còn ông Xã thì sợ hãi đến mức không thể nói hết một câu với quan sứ: “Lạy quan lớn, ông vừa thưa vừa quay lại phía chiếu, dám xin quan lớn nhận cho, của mọn thôi ạ! Cái món qu… qu…”.

Ông sợ hãi như thế là đúng với lô gích tâm lý nhân vật khi kẻ đối thoại với ông là một hung thần “đã từng chặt 75 cái đầu hào mục xứ Bắc Kỳ”. Bản thân ông cũng là một hào mục, biết đâu, cái đầu của ông sẽ là cái đầu thứ 76! Càng sợ hãi hơn khi ông phát hiện món quà ông “dâng” đã “chuồn mất”. Đơn giản nó chỉ là một con rùa không quen nằm ngồi trong đĩa nên có cơ hội là bò đi.

Truyện tiêu biểu cho một truyện cười.

Truyện cười bao giờ cũng phải có tình huống gây cười, ở đây là tình huống hiểu lầm: biếu rùa nhưng rùa bò đi mất để viên công sứ hiểu lầm là biếu khay. Tiếng cười hướng đến cả hai đối tượng đáng cười: ông Xã và viên công sứ. Cười ông Xã vì ông này định biếu rùa nhưng lại mất cả rùa lẫn khay. Tiếng cười hướng đến ông Xã nhẹ nhàng hơn nhiều tiếng cười phê phán đả kích như làn roi quất hướng vào tên công sứ.

image001.jpg -0
Căn nhà số 13 (nay là 248 – 250) đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu, Trung Quốc.

Lớp ý nghĩa thứ nhất của truyện là tác giả giễu cái trò biếu xén, nhất là trong xã hội đầy bất công thì cái trò này càng làm cho cả hai phía, người biếu và kẻ được biếu đều đáng cười. Nhìn vào tình huống truyện, giả sử quà vẫn còn, mà quan sứ nhận cả quà cả khay thì yếu tố hiểu lầm không còn, tính bất ngờ của truyện giảm đi, do vậy tính cách tham lam vốn là thuộc tính của quan không bộc lộ rõ, bộc lộ hết. Nhìn từ góc độ này, nhân vật con rùa chỉ là một thứ đạo cụ được tác giả sử dụng để tạo ra một tình huống gây cười oái oăm chứ không thể coi đó là một “con rùa láu lỉnh”, “thông minh” được.

Nhân vật truyện cười thường tiêu biểu cho một nét tính cách nào đó qua hành động. Hai nhân vật quan sứ và ông Xã là điển hình: ông Xã thì quen nô lệ, sợ hãi, nhu nhược…; viên quan thì đã ổn định với tâm lý ăn của đút, nên ông ta nhìn cái gì cũng đều thấy đó là của đút, “đút” cho mình và để “đút” cho người khác. Do vậy khi nhìn thấy cái khay ông đã “reo to lên” và nghĩ ngay đến chuyện “biếu” cho quan Toàn quyền. Chứ ông không thể nghĩ được cái khay kia đã đựng cái gì. Rõ ràng cả hai nhân vật đều là nô lệ của tính cách. Cả hai đều thảm hại như nhau, người thì thảm hại trong thân phận nô lệ, tính cách nô lệ; kẻ thì thảm hại trong tâm lý đút lót, tính cách ăn của đút, dâng của đút lót!

Lời văn gây cười của truyện thì thật đậm đà. Ở phép chơi chữ, trong bản phiên âm tiếng Pháp tên làng La Lo chính là phép chơi chữ kết hợp cả tiếng Pháp và tiếng Việt: La, tiếng Pháp có nghĩa: cái, chiếc, sự, cái nỗi… Lo (tiếng Việt) có nghĩa lo lắng. Tên làng là La Lo được hiểu là làng (của những) sự lo, nỗi lo…

Đúng 100 năm sau nhìn lại càng thấy tính hiện đại, thời sự của truyện. Tác phẩm là một vở hài kịch được viết dưới ánh sáng nguyên lý kịch cổ điển của Boalô: duy nhất hành động, duy nhất thời gian, duy nhất địa điểm, để toát ra một ý nghĩa phổ quát rộng rãi hơn nhiều một ý nghĩa phê phán: Nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam là phải thay đổi, thay đổi một cách triệt để xã hội thực dân, phải xây dựng một môi trường xã hội mới, xã hội không có kẻ bóc lột và người bị bóc lột, thì con người mới có thể rũ bỏ được thân phận, tính cách nô lệ thảm hại để con người trở về với giá trị đích thực con người!

Phải thay đổi hoàn cảnh xã hội (Bắc Kỳ) để không còn tình trạng con người bị lo sợ, run sợ trước cái ác. Một khi con người còn ở trong tình trạng run sợ, lo sợ thì sẽ không thể có khả năng tư duy, không đủ trí tuệ, như nhân vật ông Xã nọ, sợ đến mức thở không ra hơi, nói không ra câu nên mới lắp bắp như vậy! Đó cũng là con đường phấn đấu của Nguyễn Ái Quốc ngay từ khi Người ra đi tìm đường cứu nước.

Như vậy đối tượng đọc của truyện không chỉ là các học viên của lớp học chính trị (đang và sẽ tiếp tục được tổ chức) mà cho tất cả, cho toàn thế giới. Vì lẽ này nên truyện được viết bằng tiếng Pháp - thứ tiếng phổ biến thời bấy giờ. Càng thấy rõ thêm quan niệm của Bác, văn học nghệ thuật là một thứ vũ khí sắc bén phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng. Càng thấy sứ mệnh, công dụng lớn lao của văn học làm mềm mại, sâu sắc, tinh tế và cụ thể hóa đường lối, sách lược chính trị. 

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Cảm thức vũ trụ của người xưa trong truyền thuyết thời Hùng Vương

Truyền thuyết thời Hùng Vương là tấm bản đồ tư duy vũ trụ quan độc đáo của người Việt cổ. Người xưa nghĩ về trời đất, về sự sống bằng những câu chuyện kể sinh động. Họ quan niệm vạn vật đều có linh hồn, sống và chết chỉ là một sự chuyển hóa. Và con người luôn ở vị trí trung tâm, vừa kiến tạo vừa gìn giữ sự hài hòa với thiên nhiên.

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Sách lá - kho tri thức quý của người Khmer

Cũng như các dân tộc khác trên thế giới, từ xa xưa người Khmer ở Nam Bộ đã biết cách khắc chữ trên đá, các nguyên liệu khác để ghi chép kinh nghiệm sống, tri thức các lĩnh vực sản xuất, văn hóa, lời dăn dạy của tín ngưỡng, tôn giáo cho thế hệ sau...

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Đánh thức khát vọng sáng tạo của tuổi trẻ

Mạng xã hội bàn tán về đề thi THPT môn Ngữ văn, về câu 1 viết đoạn văn nghị luận xã hội. “Nước Mỹ có Steve Jobs, Mark Zuckerberg, Elon Musk... với những phát minh công nghệ góp phần làm thay đổi thế giới. Từ gợi dẫn trên, với tư cách người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để có những “Steve Jobs Việt Nam”?

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Sống động dấu tích kẻ Mơ

Thăng Long xưa được gắn với từ Kẻ Chợ (“Kẻ” là từ chung chỉ một vùng đất và dân cư trù phú). Kinh đô lại có nhiều kẻ nhỏ, như: Kẻ Vẽ, kẻ Mơ, kẻ Chèm, Kẻ Mọc, Kẻ Cót... Từ xưa, phía đông nam thành Thăng Long là một vùng đất rộng lớn có tên là Cổ Mai (tên nôm là Kẻ Mơ), bao gồm các làng Hoàng Mai, Tương Mai, Mai Động, Hồng Mai. Đến đời Tự Đức (1848 - 1883), vì kỵ húy nên đổi Hồng Mai thành Bạch Mai.

Trăm năm chợ “chảnh”

Trăm năm chợ “chảnh”

Trong ký ức của thị dân Sài thành có một khu vực đặc biệt mà hễ nhắc đến nó, người ta nhớ ngay đến ngôi chợ bao đời mang danh chợ “chảnh”. Đến năm 2026 này, ngôi “chợ nhà giàu” ấy đã bước sang tuổi 100.

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Sáng tạo như một hành vi vũ trụ

Một buổi sáng tháng 9 năm 2015, các máy dò LIGO ghi nhận tiếng của hai hố đen sáp nhập từ 1,3 tỷ năm ánh sáng. Sự kiện ấy chứng minh rằng vũ trụ vận hành bằng những dao động vô hình, khác hẳn với những khối vật chất rắn chắc.

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Những địa danh bất tử trong bài thơ Tây Tiến

Khu Di tích lịch sử lưu niệm Trung đoàn 52 Tây Tiến được xây dựng trên đồi Nà Bó, phường Mộc Châu, tỉnh Sơn La. Từ khi khánh thành năm 2016 đến nay, nơi đây đã trở thành điểm đến tham quan, tri ân, tưởng nhớ đến những người lính năm xưa đã ngã xuống vì Tổ quốc...

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Xôn xao mái phố phía đông kinh thành

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp phá dỡ bức tường thành phía Đông thành Thăng Long, và lấp đi con hào chạy dọc tường thành, tạo ra một con đường mới dài hơn 1.200m, chính là phố Phùng Hưng (Hà Nội) ngày nay.

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Cố họa sĩ Trần Nguyên Dũng: Trong thế giới của ký ức

Khi còn ở dương thế, Trần Nguyên Dũng là một họa sĩ trầm lặng, luôn là người lắng nghe trong mọi cuộc vui. Tại triển lãm “Những ngày thảnh thơi”, hội họa sẽ kể những câu chuyện về thế giới nội tâm đầy sắc màu của ông...

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Họa sĩ Tạ Tỵ Với chiếc đũa thần màu nhiệm

Tôi thực sự ngạc nhiên khi đọc được bút tích của họa sĩ Tạ Tỵ (1921-2004) để lại với đề từ sâu sắc rằng: “Nghệ thuật là cao quý. Người làm ra nghệ thuật đã cao quý. Người thưởng ngoạn nghệ thuật còn cao quý hơn” (trích “Tạ Tỵ- Dấu ấn sáng tạo” - NXB Hội Nhà văn-2019). Họa sĩ cần người xem luôn thấu hiểu và đồng hành sáng tạo cùng nghệ sĩ. Bởi lẽ, ông chính là người khởi đầu cho dòng tranh Lập thể vào đầu thập niên 50 (thế kỷ 20) nhưng đầy gian nan.