Xuôi dòng An Sơn, phải lòng Lái Thiêu

Tôi ngồi bên dòng An Sơn một chiều tháng tư nghe hoàng hôn võ vàng sóng nước. Dòng An Sơn là một nhánh rẽ của con sông Sài Gòn chảy qua Lái Thiêu. Mười năm gá thân vào đất này, tôi thấy Lái Thiêu có quá nhiều câu chuyện để kể.

Đất anh hùng giữ nghề xưa

Tôi ghé “Chiến khu An Sơn” vào một sớm trời còn trong nắng. Ngôi đình nằm nép mình bên dòng An Sơn với cánh cổng đã rêu phong cũ càng. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đình trở thành căn cứ kháng chiến của tỉnh, là nơi dừng chân của các lực lượng kháng chiến miền Đông Nam Bộ trong những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Tới thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đình An Sơn là trạm Y tế tiền phương, nơi tập kết của lực lượng vũ trang tiến đánh Sài Gòn. Chi đội 1 của lực lượng Giải phóng quân Nam bộ được thành lập tại đây sau Cách Mạng Tháng Tám 1945 và là đơn vị vũ trang tập trung thành lập sớm nhất Nam bộ. Tháng 7/2005, đình An Sơn được nhà nước công nhận là di tích lịch sử - văn hóa.

m%3ft do%3fn b%3f kè lái thiêu nhìn t%3f trên cao.jpg -1
Một đoạn bờ kè Lái Thiêu nhìn từ trên cao.

Từ chiến khu anh hùng của người dân Lái Thiêu, tôi tìm về Đình Phú Long, ngôi đình được ban sắc phong vào năm Tự Đức thứ 5 (tức năm 1842) và được công nhận là Di tích Lịch sử - Văn hóa cấp quốc gia năm 2001. Đình được xây dựng kiểu chữ tam, theo lối “trùng thiềm điệp ốc”, lợp ngói âm dương, nền lót gạch hoa. Cổng đình, tường vách dọc ngang được chạm trổ hoa văn, họa tiết, phần lớn được cẩn li ti bằng những mảnh men sành sứ cổ, đủ sắc màu, phong phú với nhiều hình tượng, điển tích đa dạng.

Gần 200 năm, đình vẫn còn lưu giữ rất nhiều câu đối khắc trên thân các cây cột, hương án..., tất cả đều được chạm trổ tinh vi, sơn son thếp vàng rực rỡ. Các hoa văn trang trí trong lẫn ngoài đình là hình cá hóa long, rồng cách điệu, cảnh hội Bát tiên... Mỗi họa tiết đều là câu chuyện được truyền miệng về các điển tích trong đối nhân xử thế, ca ngợi cảnh đất nước thái bình, thịnh trị. Ngôi đình này cũng từng là nơi ẩn náu, cất giấu vũ khí của nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ cách mạng tại địa phương trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.

Lần theo dấu vết tiền nhân thời mở đất, đi dọc con sông An Sơn, nhìn những con tàu lớn chở gốm từ Lái Thiêu ngược về cầu Phú Cường để ra sông Sài Gòn. Dấu tích làng nghề trứ danh Đông Dương ngày ấy có chăng chỉ còn lại xóm làm gốm cũ càng ven rạch Bà Lụa. Những lò gốm đầu tiên của khu vực Lái Thiêu hình thành vào những năm 80 của thế kỷ 19 bên các bờ kênh rạch Hưng Định (Búng), rạch Tân Thới (Lái Thiêu), Bình Hòa (Bình Nhâm).

Lái Thiêu có điều kiện tự nhiên thuận lợi như hệ thống giao thông thủy bộ, có nguồn đất sét trù phú. Thuở ban đầu Lái Thiêu chỉ đóng vai trò là chợ đầu mối (nơi tập kết và phân phối) đồ gốm dân dụng. Về sau Lái Thiêu phát triển thành làng nghề, trở thành thương hiệu đại diện cho gốm Bình Dương, là đầu mối đưa hàng gốm đi đến khắp Nam kỳ Lục tỉnh và sang tận Campuchia, Lào.

Tôi tìm về xóm heo đất, làng nghề hơn 70 năm tuổi nay không còn xôm tụ như thuở trước nhưng nghề xưa vẫn bền bỉ lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ở khu phố Hòa Long vẫn rộn ràng với sân phơi đất sét. Xóm heo đất cũng chia nhau theo từng công đoạn. Có hộ chuyên cung cấp đất sét, có hộ sẽ nặn và nung, rồi chuyển qua những hộ trang trí và hoàn thiện sản phẩm. Ngoài heo đất, theo thời thế phát triển, các hộ dân ở đây cũng sáng tạo theo gà, vịt, doraemon, thiên nga, bồ câu…

Tôi theo anh Tâm, một chủ lò heo đất đi lòng vòng giữa một sáng tháng tư trời gắt gỏng. Người đàn ông đã ngoài bốn mươi rắn rỏi với nước da ngăm đen cố hữu của dân xóm heo đất. Anh cười bảo tuy không còn nhiều xe hàng hay ghe cập bến để ghé xóm heo đất bổ hàng như xưa, nhưng nay đã thích nghi với thời thế. Dịch chuyển từ thủ công lên công nghiệp để các công đoạn đơn giản hơn, không ô nhiễm môi trường như xưa, nhưng phần lớn các công đoạn tạo hình, phơi đất vẫn cứ phải có bàn tay người rớ vô mới tạo ra sự đặc biệt của heo đất xứ này. Thứ làm nên danh tiếng heo đất Lái Thiêu là hồn người trong từng nét vẽ.

Ngoại trừ heo đất, giờ đây Lái Thiêu cũng đầu tư hẳn vào các xưởng làm gốm chuyên nghiệp để cung ứng mặt hàng chén, bát, bình nước, hay dĩa ăn cho rất nhiều thương lái. Mấy năm gần đây, trào lưu quay về dùng bộ dụng cụ ăn uống theo cốt cách xưa cũng khiến người làm gốm thủ công Lái Thiêu rộn ràng hơn trước. Cùng với sự phát triển mạng xã hội, các xưởng làm nghề gốm thủ công ở Lái Thiêu đã biết làm truyền thông online. Họ tạo ra các phiên livestream bán hàng, quay trực tiếp công đoạn làm gốm. Thậm chí người làm gốm còn tạo ra các Vườn Gốm, kết hợp du lịch trải nghiệm và cà phê ăn uống để thu hút khách thưởng lãm.

Nét đặc biệt làm nên hồn đất

Nhờ con nước An Sơn bồi phù sa cho vùng đất này mà Lái Thiêu ngày đó nức tiếng với những vườn trái cây sum suê. Tôi nhớ trong ký ức ấu thời của mình, cứ mỗi độ mùng 5 tháng 5 âm lịch, tức dịp tết Đoan Ngọ, dân Sài Gòn hay đổ dồn về các vườn trái cây ở Lái Thiêu. Bởi thời điểm đó, nơi đây đầy đủ các loại trái cây ngon như măng cụt, chôm chôm, mít, xoài, bưởi… Dân phố thị thèm cái không khí vườn tược, ngược theo phía miền Đông chỉ vỏn vẹn một tiếng đồng hồ đã thỏa thê đắm mình vào không gian mát xanh cây trái.

hoàng hôn trên dòng an son.jpg -0
Hoàng hôn trên dòng An Sơn.

Cũng từ đó, Lái Thiêu nổi tiếng khắp miền Nam với món đặc sản gỏi gà măng cụt. Kỳ thực, đó là đặc sản mà chỉ rộ lên theo mùa, khiến ai cũng thèm thuồng cứ canh thời gian các nhà vườn có măng cụt là tranh nhau tìm đến. Mùa măng cụt có thể nói là mùa vui như hội ở đất này.

Cho đến bây giờ, khi đã rời khu trung tâm Sài Gòn để về Lái Thiêu sinh sống, mỗi mùa măng cụt, cả nhà tôi vẫn cứ phải canh me đi vét vườn. Măng cụt vét vườn thường là măng cụt nhỏ, loại không hột, lại ngòn ngọt chua thanh, thứ măng cụt này mà đem trộn gỏi với gà thả vườn luộc xé thịt chấm với nước mắm chua ngọt cứ gọi là tốn cơm tốn rượu.

Bổi trộn chung cũng rất đặc biệt, là mấy loại rau củ trồng ngay tại vườn như rau răm, hành tây, đu đủ non, hay cóc non, cũng có khi hoa chuối. Thêm chút đậu phọng rang tới lửa và hành phi nhà làm. Dĩa gỏi măng cụt hòa quyện tổng thể hương vị đậm chất Lái Thiêu khiến ai nếm thử một lần là yêu luôn đất này.

Hiện nay, TP. Hồ Chí Minh đã quy hoạch vùng cây trái Lái Thiêu trải rộng 1.200 ha trên các địa bàn Vĩnh Phú, Lái Thiêu, An Thạnh, Bình Nhâm, Hưng Định, An Sơn. Với một quyết tâm cao sẽ hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất để người dân nhà vườn thật sự toàn tâm, toàn ý phát triển du lịch bền vững.

Để xây dựng lại thương hiệu vườn cây trái Lái Thiêu, phải bắt đầu từ việc thay đổi trong văn hóa ứng xử, văn hóa mua bán... tạo nên thương hiệu kinh doanh điển hình, tiêu biểu, có hiệu quả từ đó nhân rộng để du khách đến thưởng thức, hài lòng và giới thiệu đến bạn bè thân quen.

Sẫm tối trời, tôi theo con đường Phan Đình Phùng, đổ dọc về ngôi chợ Lái Thiêu, xuất hiện trong sử liệu từ năm 1836. Theo nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn 1836 thì chợ Lái Thiêu xếp thứ 3 trong 7 chợ của huyện Bình An thời ấy. Từ chỉ dấu địa lý Việt đầu tiên là Lái Thiêu, người dân nơi đây gồm nhiều thành phần cộng cư đã chung tay phát triển mảnh đất này. Cuối thế kỉ 17 đến đầu thế kỷ 18, người Hoa gốc Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu đã đến vùng đất này tạo ra nhiều hàng buôn, cơ sở và hệ thống chùa chiền.

Cho đến nay, Lái Thiêu vẫn còn âm hưởng đôi chút không gian sống của người Hoa. Dọc bốn ngã đường nối vào chợ Lái Thiêu còn có cà phê vợt, "mì Tàu", "chè Hoa". Đặc biệt, đất này là nơi những người công giáo lẩn nấp lệnh cấm đạo của nhà Nguyễn thuở xưa tìm đến, và hiện nay còn có cộng đồng di dân 54 cư trú từ ngã ba Cây Liễu đến dốc nhà thờ. Hay những người miền Tây nhánh Ô Môn, Bình Thủy theo con nước cập bến từ hồi Lái Thiêu là thương cảng. Vậy nên, vàm sông lẩn khuất những ngôi miếu bà, nơi thương thuyền hay đến cúng.

Tôi dành một ngày để làm chuyến "Lái Thiêu du ký", đến chiều hôm quay về nhìn dòng An Sơn ôm trọn mảnh đất hiền hòa này, thấy mình phải lòng Lái Thiêu. Nơi đây có một chút gì đó hào sảng của Sài Gòn, một chút gì đó xôm tụ của Chợ Lớn, một chút gì đó thảo thơm của miền Tây Nam bộ. Có chiếc ghe nhỏ rẽ nước trong ráng chiều đỏ ối, chợt lòng tôi âm ba câu hò xứ này: “Hò ơi … ghe anh nhỏ mũi trái lườn, Lái Thiêu mới xuống ai thương thì cùng…”.

Tống Phước Bảo

Các tin khác

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Sao Khuê lấp lánh trời Dục Tú

Làng Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội) tên nôm là Kẻ Giếc, một xã đứng đầu tổng Dục Tú gồm 4 xã thuộc huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, trấn Kinh Bắc, tức tỉnh Bắc Ninh (đầu thời kỳ nhà Nguyễn). Trong kháng chiến chống Pháp, cả 4 xã của Dục Tú được nhập thành một xã, thuộc huyện Từ Sơn, Bắc Ninh. Tháng 5/1961, Dục Tú trở thành đơn vị hành chính thuộc huyện Đông Anh, TP Hà Nội.

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Ðôi tay tài hoa của một nghệ nhân Cơ Tu

Đến Làng văn hóa - du lịch các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô, Hà Nội, du khách đặc biệt ấn tượng với một nghệ nhân có nước da rắn rỏi, mải miết với từng nan tre và các sản phẩm thủ công đặc sắc của người Cơ Tu.

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Dấu tích trăm tuổi, ta qua trăm buổi

Với hơn 300 năm hình thành và phát triển, giữa không gian hiện đại của miền nắng ấm phương Nam này vẫn còn đó những dấu tích trăm tuổi để nhắc nhớ thị dân về những giai đoạn lịch sử của vùng đất năng động, cởi mở, hào sảng và đầy trượng nghĩa.

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Phim kinh dị và cuộc đổi ngôi tại Hollywood

Từng là thời điểm “ăn nên làm ra” của các phim bom tấn, nhưng mùa hè năm nay đang cho thấy một diễn biến khác, khi các phim kinh dị mới là chủ lưu. Trong những tuần qua, 2 tác phẩm mới “Obsession” (tạm dịch: Ám ảnh kinh hoàng) và “Backrooms” (Thực thể quỷ quyệt) liên tiếp thay nhau đạt đỉnh phòng vé.

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Âm nhạc bay lên từ những cuộc tình

Từ nhỏ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc (1919-2001) bị bạn bè gắn biệt danh Phúc "Rỗ" hay Phúc "Khoèo". Mặt bị rỗ sau lần lên sởi, còn khuỷu tay trái bị trật vì một cú ngã bó thuốc mãi không khỏi, thế là cậu Phúc ngày ấy mang tật. Khi lớn lên, chàng Phúc biết rõ những khiếm khuyết của mình nhưng vẫn tỉnh bơ, vui vẻ sống với những khát vọng tuổi trẻ. Tới tuổi đôi mươi khi nghĩ đến chuyện yêu đương, mọi sự mới thành chuyện. Cũng lắm tình huống xảy ra bất ngờ.

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Nhớ thương mùa vối quê nhà

Sáng nay bất chợt nhìn lên cây vối trồng ở góc vườn cũng đã hơn chục năm kể từ khi mình xây ngôi nhà này. Thấy vối cựa mình thức giấc, tự bứng mình ra khỏi những trầm tư mùa cũ để thắp lên mùa hoa mới. Cả vòm cây như được khoác một tấm áo bông trắng ngà, nhẹ nhàng và xốp mịn. Hoa vối nở bung, tỏa ra những sợi nhụy dài thanh mảnh, rập rờn trong gió như vũ điệu chào đón bình minh. Tôi bỗng nhớ về những mùa vối quê nhà dẫu bây giờ đã là xa ngái...

Nụ cười Mai Đức Chung

Nụ cười Mai Đức Chung

Có lẽ, Anh hùng Lao động Mai Đức Chung là huấn luyện viên (HLV) bóng đá đặc biệt nhất mà tôi từng biết. Đặc biệt không chỉ bởi ông gắn với những hoàn cảnh đặc biệt, giành được nhiều thành tích đặc biệt, mà còn bởi nụ cười hiền từ của ông.

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Cây ô-liu mọc trên mảnh đất hòa bình

Có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, được trồng cách đây hàng nghìn năm, ô-liu là loại cây có sức sống đặc biệt bền bỉ, có thể sinh trưởng trên những vùng đất khô cằn, sỏi đá, chịu được nắng nóng, có thể sống tới cả ngàn năm. Người ta vẫn kể, dù đã bao cuộc chiến tranh đi qua, nhiều cây ô-liu cổ xưa ở Hy Lạp, Palestine, Italia đến nay vẫn ra hoa kết trái. Hình như càng khắc nghiệt, cây càng vững chãi.

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Thần tượng và phiên bản tốt nhất

Lâu nay, đã thấy ít người nhắc đến thần tượng của giới trẻ như giai đoạn trước. Có sự biến đổi nào chăng? Thật ra, không phải như thế mà bởi giới trẻ hôm nay có quá nhiều tấm gương, quá nhiều mục tiêu để phấn đấu. Từ tấm gương dũng cảm cứu người trong hoạn nạn đến tấm gương trong học tập, nghiên cứu, vượt lên nghịch cảnh... Đôi khi, chỉ cần người trẻ nhận ra một nhân vật tốt ngay chính ở khu phố, xóm, bản... của mình để học tập, phấn đấu theo đã là một tín hiệu tích cực trong xã hội. Thần tượng nào có xa vời!

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Điện ảnh Việt có cần nhiều hơn những câu chuyện ma?

Tin vui cho khán giả yêu thích môn nghệ thuật thứ 7. Cục Điện ảnh vừa lên tiếng khuyến khích sản xuất và phát hành những bộ phim giàu giá trị nhân văn, phản ánh đời sống xã hội và góp phần xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Điều này đồng nghĩa với việc sau nhiều năm các nhà làm phim kiên trì "giáo dục" người xem bằng ma quỷ, vong nhập, xác sống, bùa ngải, nhà hoang, thẩm mỹ viện âm phủ, bệnh viện âm phủ, chung cư âm phủ và có lẽ trong tương lai không xa là cả trạm thu phí âm phủ, chúng ta đã chú trọng hơn đến xây dựng con người nhân văn.

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Hình ảnh làm nên linh hồn bài thơ

Trong sáng tác thơ, hình ảnh không chỉ là phương tiện trang trí cho câu thơ, mà là một trong những yếu tố cốt lõi làm nên tứ thơ, cảm xúc thơ và sức ám ảnh của bài thơ.

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Thực tế từ cuộc tọa đàm

Vừa qua, Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm "Diện mạo văn chương ở đô thị quốc tế" trong khuôn khổ của trại sáng tác hằng năm. Sau sáp nhập, TP Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ về địa giới hành chính, mà còn là sự hợp lưu của nhiều dòng chảy văn chương mang phong vị riêng biệt. Nhưng câu chuyện "diện mạo văn chương" thời kỷ nguyên số lại là câu chuyện chẳng hề dễ dàng.