Một ngôi đền của lịch sử và văn hóa

Mỗi lần đọc thơ của tác giả Trịnh Vệ, tôi luôn nghĩ thơ ông, hay nói chính xác hơn là tâm hồn ông như một ngôi đền của lịch sử và văn hóa; Tập thơ "Bến đợi" của ông càng làm sáng tỏ hơn điều tôi đã nghĩ.

Tôi không biết nhiều về cuộc đời ông, nhưng với từng đó năm sống trên cuộc đời này, làm việc trong một lĩnh vực đặc biệt và đi qua bao biến động của lịch sử đất nước thì con người Trịnh Vệ không thể chỉ bước trên một con đường bằng phẳng đầy hoa. Những thăng trầm, biến động của đời sống mà ông đã đi qua, giống như những con sóng đại dương. Đấy là chưa nói đến những con sóng trong lòng.

Một ngôi đền của lịch sử và văn hóa -1
Tác giả Trịnh Vệ.

Chắc chắn một người đã bước vào tuổi 80 sẽ còn những đợt sóng lớn trong lòng ông nữa. Những con sóng của bao nỗi niềm, bao suy nghĩ, bao câu hỏi và bao trăn trở đúng sai của kiếp người và của cuộc đời đã cho ông nhận ra những vẻ đẹp của lịch sử, văn hóa và cõi người. Những vẻ đẹp và sự thiêng liêng mà tôi muốn nói đến trong thơ ông, trong tâm hồn ông chính là những vẻ đẹp, những giá trị của đời sống, của lịch sử, của văn hóa và lẽ đời cũng như tình yêu mà ông cảm nhận và suy tưởng.

Có thể tôi và chúng ta cũng có một làng quê như làng quê của ông. Nhưng khi đọc những câu thơ ông viết về Thành hoàng làng hiện ra trong một đêm trăng thì tôi thấy cánh cửa tâm hồn ông đã mở ra và tôi nhìn thấy sự linh thiêng cùng vẻ đẹp của văn hóa Việt ngàn năm trú ngụ trong đó. Ông cất giữ trong tâm hồn mình cả tổ tiên dòng giống, cả một chiều dài văn hóa trên mảnh đất này. Giờ đây, những câu thơ của ông đang cất giữ những điều ấy. Cất giữ để đến một ngày mở ra cho chúng ta nhìn thấy và suy ngẫm.

Đêm sáng ánh trăng treo
Thành hoàng luôn dõi theo
Giữ bình yên xã tắc
Vươn khơi vững tay chèo

Tôi rất muốn nói về những vẻ đẹp của lịch sử, của văn hóa, của con người trong thơ ông. Bởi trong rất nhiều tác phẩm văn học, hội họa, âm nhạc… của những năm tháng này vắng bóng vẻ đẹp và sự thiêng liêng của lịch sử, của văn hóa… Sự vắng bóng ở đây có thể đồng nghĩa với sự lãng quên.

Thế giới từng cảnh báo về một căn bệnh vô cùng nguy hiểm. Căn bệnh đó được gọi là “mất trí nhớ lịch sử”, “mất trí nhớ văn hóa". Căn bệnh đó sẽ hủy hoại ý thức sống của con người, nó làm con người trở nên vô cảm, vô ơn và không có khả năng nhận biết được con đường đi tới tương lai bởi đã đánh mất quá khứ. Con người khi đã đánh mất quá khứ, nghĩa là đánh mất lịch sử và văn hóa. Tôi có thể nói đó là sự cảnh báo lớn nhất của nhân loại.

Có một điều rất đặc biệt trong thơ ông mỗi khi viết những câu thơ về lịch sử và văn hóa. Một màu thời gian cổ kính, uy hùng linh thiêng trùm phủ những câu thơ ấy. Chính điều đó mà ông đã dựng lên rất thành công không gian của một vùng lịch sử, một vùng văn hóa trong thơ. Xin hãy đọc những câu thơ dưới đây của ông và xin hãy lắng nghe bằng cảm xúc trong sâu thẳm lòng mình.

Viết về lịch sử rất dễ biến người viết, kể cả người viết chuyên nghiệp thành một người mô tả khiên cưỡng mà không tạo ra cảm xúc cho người đọc. Tác giả Trịnh Vệ đã thoát được cái “lối mòn” nguy hiểm này. Tôi suy nghĩ rất nhiều về lý do vì đâu mà ông có thể thoát được “lối mòn” nguy hiểm ấy. Đấy chính là tình yêu chân thành, mãnh liệt của ông đối với lịch sử và văn hóa. Và thêm nữa ông là người thấu hiểu sự linh thiêng của lịch sử và văn hóa bằng những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống mà ông đã trải qua.

Dấu xưa mưa nắng dãi dầu,
Vương triều thành cổ in màu vàng son.
Đông A hào khí nước non,
Thời gian phủ kín lối mòn bể dâu.
Xin hãy cùng tôi đọc thêm một khổ thơ khác của ông:
Chữ thánh hiền khắc vào mộc bản
Lưu giữ hồn thiêng tài sản quốc gia
Dù trải qua binh lửa phong ba
Vẫn tươi nét son ông cha để lại.

Những vương triều thành cổ, những chữ thánh hiền trong thơ ông không phải là những di sản bất động, xói mòn và chìm đắm theo thời gian mà sống động lạ thường. Đọc những câu thơ như thế của ông, tôi cảm nhận được hơi thở, giọng nói, ánh mắt của người xưa. Và chính từ đó mối liên kết của các thế hệ người Việt sau này với tổ tiên, nguồn cội sẽ bền vững hơn lúc nào hết. Mối liên hệ đó không nằm trong những trang sách giáo điều mà nằm ngay trong nhịp đập của trái tim và cảm thức từ đời sống của mỗi con người.

Một ngôi đền của lịch sử và văn hóa -0
Bìa tập thơ “Bến đợi” của tác giả Trịnh Vệ.

Tác giả Trịnh Vệ không phải là một nhà sử học, không phải một nhà nghiên cứu, không phải một người viết chuyên nghiệp. Ông chỉ là một con người sống với cuộc đời này bằng trái tim và “trách nhiệm người” của mình. Bởi thế mà những gì ông viết trong nhiều năm nay, kể cả khi ông không viết đều là những rung động, những rung vang từ chính con người ông, từ chính đời sống của ông. Chính vì lý do đó mà những câu thơ vô cùng giản dị của ông lại có sức gợi mở rất nhiều.

Tôi đã từng nhiều lần viếng nghĩa trang liệt sĩ nhưng khi đọc bài thơ “Vẫn thẳng hàng” của ông tôi lại nhìn thấy một vẻ đẹp mới, một tinh thần mới của những người lính đã hy sinh cho Tổ quốc. Không phải bằng nghệ thuật thơ ca mà bằng trải nghiệm sống, bằng những suy ngẫm sâu sắc về lịch sử, tác giả Trịnh Vệ mới phát hiện ra những người lính vẫn “thẳng hàng” trong tư thế của người chiến sĩ luôn sẵn sàng lên đường khi Tổ quốc gọi. Đây là một cách nghĩ, một cách viết về lịch sử đầy thuyết phục và sáng tạo.

Hãy yên nghỉ trong lời ru nhè nhẹ
Và thẳng hàng mạnh mẽ hành quân
Nối gót các anh trùng điệp bước chân
Tổ quốc gọi tên mình giữa mùa xuân đất nước

Có rất nhiều điều tôi muốn nói về thơ của tác giả Trịnh Vệ, nhưng ấn tượng nhất với tôi là vẻ đẹp và sự thiêng liêng của lịch sử, văn hóa dân tộc được thể hiện trong thơ ông. Hơn nữa, lịch sử và văn hóa chính là nguồn năng lượng quyết định sức đi và sức vươn của một dân tộc về phía tương lai.

Tác giả Trịnh Vệ không có chủ đích chọn những vấn đề của lịch sử và văn hóa để viết, mà những vẻ đẹp của văn hóa dân tộc, những ý nghĩa lớn lao của lịch sử đã thấm đẫm trong máu thịt ông, trở thành hơi thở của ông.

Chính vì thế mà những điều tưởng như “khô khan” lại trở nên rung cảm và lấp lánh trong thơ ông. Bởi những điều đó vang lên từ sâu thẳm tâm hồn ông. Ông là một con người sống với mọi buồn vui, được mất của một con người như mọi con người. Tôi chợt nhận ra ông thật “thi sĩ” khi viết những câu thơ sau:

Lang thang trên cánh đồng làng,
Bỗng dưng nhặt được nắng vàng chớm thu.

Hay:

Gặp người trong giấc mơ đêm,
Hẹn về lối cũ êm đềm bến quê.

Những câu thơ đẹp như thế chỉ có thể vang lên từ một tâm hồn đẹp của một con người sống hết lòng với cuộc đời. Nếu không có một đời sống chân thực, một tình yêu mãnh liệt, một suy ngẫm sâu sắc thì không viết được như vậy. Và rất nhiều những câu thơ xúc động, sâu sắc, nhiều gợi mở về lịch sử và văn hóa của ông cũng được sinh ra bằng một con đường như thế.

Hà Đông, tháng 8 năm 2025

Nguyễn Quang Thiều

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.