Ức trai tâm thượng quang khuê tảo

Hôm 14-9-2019, nhằm ngày 16-8 sau Tết Trung thu là ngày giỗ cụ Thừa chỉ Nguyễn Trãi, quan Nhập nội hành khiển (tương đương Tể tướng) dưới thời vua Lê Thái Tổ. Ngày này năm Nhâm Tuất 1442, Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ và gia quyến gặp nạn trong vụ án Lệ Chi Viên. Đây là lần đầu tiên tôi về làng Nhị Khê, Thường Tín, Hà Nội dự lễ giỗ cụ.

Đền thờ vốn là Từ đường họ Nguyễn rất đẹp, nhìn ra hồ bán nguyệt, cất theo kiểu chữ CÔNG, tiền tế năm gian, ống muống dài ba gian, rộng một gian hai chái, nối với hậu cung ba gian. Trong từ đường còn rất nhiều hoành phi câu đối cổ đã được sơn thếp lại, khắc chữ rất đẹp. Các bức hoành phi ngợi ca, gồm: "Khai quốc nguyên huân", "Bình Ngô khai quốc", "Quang khuê tảo", "Bình dị cận dân", "Nho thần thạc vọng"; "Ái cập miêu duệ"… với lạc khoản cho thấy đa số là hậu duệ của Nguyễn Trãi, những người đỗ đạt cung tiến.

Ở hậu cung có bức tranh lụa khổ lớn vẽ chân dung cụ Nguyễn Trãi, là hình ảnh quen thuộc trên sách báo, được thờ ở đây từ hàng trăm năm qua. Tuy nhiên, năm ngoái con cháu họ Nguyễn đã đúc tượng đồng cụ mạ vàng, nên tranh thờ để sang gian bên. Phải nói là được cúi đầu lễ Cụ tại nơi này, tôi rất xúc động…

Bức hoành phi có 3 chữ “Quang khuê tảo”.
Bức hoành phi có 3 chữ “Quang khuê tảo”.

Lễ giỗ Cụ tổ chức đơn giản, không có tế. Đoàn nào đến thì thắp hương, dâng lễ. Ông trưởng tộc nói bỏ lệ tế từ sau 1954 đến nay, do đó các cụ không có ai mặc... áo quốc phục. Các cụ phát biểu ý kiến không kỵ húy (kiêng tên) Nguyễn Phi Khanh, Nguyễn Trãi như ở nhiều gia tộc khác.

Cỗ cúng do con cháu tự làm, tự biện, không giống các họ khác là mua cỗ. Cỗ theo truyền thống nên có thêm hai món thịt chó.

Về chữ nghĩa có mấy điều đáng quan tâm. Thứ nhất, cổng đền đề "Nguyễn Quận Từ" khiến khi đến phải hỏi lại cho chắc tôi mới dám vào. Nguyễn Trãi tước Hầu, chữ Quận ở đây có nghĩa gì? Một người con cháu trong họ nói rằng đời sau phong tặng Nguyễn Trãi tước Quận công. Nếu như vậy thì "Nguyễn Quận Từ" được hiểu là đền thờ vị Quận công họ Nguyễn.

Thứ hai, đầu cổng làng có đề bốn chữ "Quan quốc chi quang". Nếu "khai quốc" thì dễ hiểu, nhưng "quan quốc" (chữ "quan" trong quan hệ, liên quan, đóng - trái với khai là mở)… Không hiểu thâm ý của các cụ làng Nhị Khê thế nào, xin các bác cao minh chỉ giúp.

Thứ ba, khi tôi đăng những hình ảnh đền thờ Nguyễn Trãi ở Nhị Khê, với bức hoành phi "Quang khuê tảo" lên Facebook thì có bạn nói là các cụ viết nhầm, phải viết chữ TẢO là buổi sớm mới đúng. Trong khi đó, chữ TẢO trong từ đường lại là rong biển. Do có sự nhầm lẫn này nên chúng ta xem lại hai chữ KHUÊ TẢO nghĩa là gì cũng thú vị.

Người Việt không mấy ai không biết câu "Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo", lời Lê Thánh Tông viết về Nguyễn Trãi. Lâu nay, câu này thường được hiểu là: Ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê.

Trước hết, chữ trên bức hoành phi này do một vị Tri phủ, viễn tôn của Nguyễn Trãi viết nên khó có thể sai. Và cách hiểu cho đúng câu này đã được GS Bùi Văn Nguyên giải quyết từ lâu.

Đây là một câu trong bài thơ thất ngôn bát cú "Quân minh thần lương" nghĩa là "Vua sáng tôi hiền" của vua Lê Thánh Tông. Nguyên văn âm Hán Việt như sau:

QUÂN MINH THẦN LƯƠNG

Cao Đế anh hùng cái thế danh,
Văn Hoàng trí dũng phủ doanh thành.
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.
Thập Trịnh đệ huynh liên quý hiển,
Nhị Thân phụ tử bội ân vinh.
Hiếu tôn Hồng Đức thừa phi tự,
Bát bách Cơ Chu lạc trị bình.

Dịch nghĩa:

VUA SÁNG TÔI HIỀN

Đức Cao Đế (Lê Lợi) là bậc anh hùng, danh trùm thiên hạ,
Đức Văn Hoàng (Thái Tông) trí dũng, giữ yên nghiệp lớn
Lòng Ức Trai (Nguyễn Trãi) rạng toả văn chương.
Bụng Vũ Mục (Lê Khôi) chứa đầy binh giáp.
Mười anh em họ Trịnh (Trịnh Khả) đều vẻ vang phú quý,
Hai cha con họ Thân (Thân Nhân Trung) nhiều ân sủng vinh hoa.
Cháu hiếu Hồng Đức (Thánh Tông) kế thừa nghiệp lớn,
Vui hưởng trị bình như nhà Chu dài tám trăm năm.

Trong đó, hai câu ba, bốn đề cập đến Nguyễn Trãi và Lê Khôi muốn lấy ý là hai vị văn võ đối nhau.

Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo,
Vũ Mục hung trung liệt giáp binh.

Khuê là sao Khuê chủ về văn học và Tảo là rong biển đẹp đẽ, chỉ văn chương, vẻ đẹp lấp lánh… Ngày xưa, người ta thường thêu hình rong biển để trang trí trên áo mũ, nên mới có liên tưởng này. Như vậy, "khuê tảo" là từ ghép chỉ văn chương, chữ nghĩa, đối với "giáp binh" nghĩa là võ công, chiến trận. Hai chữ kế cũng đối ý. "Tâm thượng" có nghĩa là "trong tâm/trong lòng", đối với hai chữ "hung trung" ở câu sau cũng có nghĩa là "trong lòng/trong dạ". Chữ "thượng" (trên) cũng đối rất chỉnh với chữ "trung" (giữa/ trong) ở câu dưới. Ta vẫn có thể viết: "trên sách còn ghi" hay "trong sách còn ghi", chữ "thượng" ở đây không có nghĩa là cao thấp như "thượng đẳng", "thượng phẩm"…

Có người nói rằng, khuê tảo là văn chương của bậc đế vương. Như vậy, Lê Thánh Tông muốn nói đến việc Nguyễn Trãi đã soạn thảo nhiều văn kiện binh vận, ngoại giao trên danh nghĩa Lê Lợi chăng? Những tác phẩm này được tập hợp trong "Quân trung từ mệnh tập" và nhất là tác phẩm đặc sắc nhất, chính là "Bình Ngô đại cáo", áng thiên cổ hùng văn, nhân danh Lê Lợi bố cáo cho thiên hạ biết về chiến thắng chống giặc Minh, giải phóng dân tộc.

Tóm lại "Ức trai tâm thượng quang khuê tảo" là "Tâm hồn/tấm lòng Ức Trai tỏa sáng trong văn chương", chứ không phải "sáng như sao Khuê", hay "sáng như sao Khuê buổi sớm". Chỉ là trùng âm (chữ TẢO) nên nhiều năm qua, lời ca ngợi dành cho quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, một bậc khai quốc nguyên huân của nhà Hậu Lê vẫn bị hiểu nhầm.

Nguyễn Phan Khiêm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.