Từ qua với bậu như trắng xế chiều

Những ngày này, các sự kiện thời sự vẫn diễn ra dồn dập, tấp nập, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông. Mà thời buổi này, nghĩ ra cũng lạ, không hiểu sao thiên hạ lại quan tâm đến những chuyện chẳng ra làm sao. 

Với y, có thể chỉ “tào lao bí đao” nhưng với nhiều người lại khác. Chẳng hạn, doanh nghiệp nọ được khen/ bị chê náo nhiệt, ầm ĩ chỉ vì vợ chồng bất đồng trong việc chia tài sản, kinh doanh. 

Dấy lên chuyện này, còn một phần do người chồng có dăm năm tu tập trên non cao núi thẳm, nghe đâu tịnh khẩu. Khi “hạ san”, chỉ khoái tự xưng “qua” khi trò chuyện với người khác.

Không bàn về nội tình của cuộc hôn nhân bẽ bàng, kinh doanh chia uyên, nghĩa tình rẽ thúy ấy. Chỉ ngạc nhiên, không ít người lạ lẫm với từ “qua”. 

Trên tờ Báo Tuổi trẻ vừa phát hành, có người giải thích một cách quả quyết: “Nhiều người lầm tưởng “qua” là một từ mới nhưng thật ra đây là một từ địa phương Nam Bộ giàu sắc thái biểu cảm, đã hình thành từ thời người dân nước Việt đi xuống phương Nam mở cõi”.

Có thật đó “là một từ địa phương Nam Bộ”?

Hãy nhắc về lịch sử một chút: Năm 1602, Nguyễn Hoàng đi chơi núi Hải Vân, thấy núi non hiểm trở, nói rằng: “Chỗ này là đất yết hầu của miền Thuận, Quảng”. Rồi vượt qua núi, xem xét tình thế, sai lập dinh trấn, xây kho tàng chứa lương thực, vũ khí rồi sai con trai thứ 6 là Nguyễn Phúc Nguyên (sau là Chúa Sãi) trấn giữ. 

Vì lẽ đó, năm 2002, tỉnh Quảng Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Vai trò lịch sử của dinh trấn Quảng Nam” - kỷ niệm 400 năm dinh trấn này ra đời. 

Ban đầu dinh trấn được dựng ở Cần Húc (huyện Duy Xuyên), ít lâu sau dời sang Thanh Chiêm, rồi năm 1833, vua Minh Mạng cho dời lỵ sở Quảng Nam qua làng La Qua (Điện Bàn). Ca dao địa phương có câu: “Tỉnh thành đóng tại La Qua/ Hội An tòa sứ vốn là việc quan”.

Và La Qua đã đi vào câu đối với sự chơi chữ qua đồng âm: “Con gái La Qua, qua hôn, qua hít, qua vít, qua véo, qua chọc, qua ghẹo, qua biểu em đừng có la qua” (la: la mắng; qua: tôi). Có câu đối lại cũng sát sàn sạt về chữ nghĩa, ý tứ: “Đàn bà Phước Chỉ, chỉ xấu, chỉ xa, chỉ lười, chỉ nhác, chỉ bài, chỉ bạc, chỉ có chồng là may phước chỉ” (chỉ: chị ấy). 

Không riêng gì Quảng Nam, vượt qua đèo Hải Vân ngược ra Bắc, nếu dừng chân tại Quảng Bình, ta còn nghe câu hát huê tình: “Răng chừ đá nổi lắc lư/ Lạch Ròn kia cạn, qua mới từ nghĩa em”. Sổ tay lời ăn tiếng nói Quảng Bình (NXB Lao Động - 2011) của Nguyễn Tú đã ghi nhận, giải thích: “Tôi, từ tự xưng một cách lễ độ âu yếm”.

Trước đó, từ năm 1931, các học giả người Bắc thuộc Hội Khai trí Tiến Đức khi biên soạn Việt Nam từ điển đã giải thích rành mạch: “Ta, chúng ta”. Hoàn toàn trùng hợp với Đại Nam quấc âm tự vị ở trong Nam, từ năm 1895 đã giải thích.

Do đó, không gì ngạc nhiên khi từ Quảng Nam đi xuôi về phương Nam, ta cũng còn nghe: “Xa xôi chưa kịp nói năng/ Từ qua với bậu như trăng xế chiều”. Sổ tay các từ phương ngữ Phú Yên của Trần Sĩ Huệ giải thích: “Tiếng người lớn (chú, thầy, anh…) xưng khi nói với người nhỏ tuổi hơn”.

Với các dẫn chứng này, rõ ràng, qua không chỉ “là một từ địa phương Nam Bộ”.

Mà một khi đã tự xưng qua với nghĩa là tôi, tay doanh nhân ấy gọi người đang đối thoại là “người anh em/ anh em thiện lành”. Thật ra, phải là bậu/ em bậu thò mới… đúng catalogue! Từ xa xưa qua thường đi chung với bậu. 

Có những câu ca dao huê tình thật hay, bay bướm: “Bậu với qua gá nghĩa chung tình/ Dầu ăn cơm quán, ngủ đình cũng cam”; “Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn/ Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay”.

Lẩn thẩn với chữ nghĩa, có cái thú của nó. Là một cách nhẩn nha tìm về ý nghĩa của tiếng Việt. Ai cũng biết, xới từ xứ mà ra. “Bỏ xới” là “bỏ xứ”, bỏ quê nhà, quê cha đất tổ đi đến một nơi khác. 

Từ đó, có ý kiến cho rằng “xừ” trong “bỏ xừ” cũng là một cách đọc trại của “xứ” - và lập luận: “Như thế, nói: “Bỏ xừ rồi, phải bán xới thôi” là đã vô tình dùng điệp ngữ để tăng độ hùng hổ của ý định”. 

Cách lý giải này, có đúng không? Hoàn toàn không. Xừ là do mượn từ tiếng Pháp. Mượn như thế nào? Tầm nguyên từ điển Việt Nam của nhà ngôn ngữ Lê Ngọc Trụ cho biết, xừ (sieur): ông, người. Và còn hướng dẫn xem thêm từ “mông-xừ (monsieur): mon = của tôi; sieur = ông, tiếng xưng hô trong xã giao đối với người đàn ông, qua lời nói hoặc thư từ”. 

Cách gọi này, trong ngữ cảnh nào đó, còn thể hiện sự tinh nghịch, hài hước, thân mật lẫn trêu chọc. Chẳng hạn, nhà thơ Tú Mỡ trêu hai ông Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Quỳnh: “Nước Nam có hai người tài/ Thứ nhất xừ Vĩnh, thứ hai xừ Quỳnh”.

Tuy nhiên, không chỉ có thế. Khi cụ Vương Hồng Sển viết: “Cãi thầy, ôm gà ra đá thì chỉ có món “thua bỏ xừ”: mười độ mất tiền đủ mười” (Phong lưu cũ mới - NXB TP HCM tái bản năm 1991, tr.143) - rõ ràng, xừ đã lái qua nghĩa khác, cũng tựa như một người thảng thốt: “Bỏ xừ! Tháng này sếp lại nợ lương”. 

Câu này, có thể thay thế bằng “Bỏ mẹ/ tía/ cha/ bu… Tháng này sếp lại nợ lương”. Rõ ràng, xừ không còn nghĩa như ban đầu vay mượn tiếng Pháp, nó đã biến hóa khôn lường. Thế mới là sự lắt léo của tiếng Việt.

Dùng chữ để...chữa bệnh

Với người cầm bút, điều đáng quý nhất còn là sự yêu mến tiếng mẹ đẻ mà họ sử dụng mỗi ngày. Mà chữ nghĩa ấy, mỗi thời lại hiểu  khác đi, có thể không còn giống nghĩa ban đầu nữa. Cũng có thể ban đầu họ hiểu không đúng nhưng sau lại hiểu đúng. 

Chẳng hạn, hai từ “nhựt trình” khi du nhập vào Việt Nam với sự ra đời của Gia Định báo cùng vai trò của Trương Vĩnh Ký. “Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra/ Chép làm một bổn để mà xem chơi” - đây là hai câu mở đầu trong bổn thơ Thầy thông Chánh lưu hành tại Nam Kỳ đầu thế kỷ XX.

Chưa hết, ngay cả người miền Trung, cụ thể ở Phú Yên trước năm 1945. khi hô bài chòi cũng mở đầu: ““Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra/ Bà con lẳng lặng nghe mà tôi hô”. 

Về hiện tượng này, khi biên khảo Đất trời Phú Yên (NXB Hội Nhà văn, 2018), nhà nghiên cứu Trần Sĩ Huệ lý giải hoàn toàn có lý: “Lúc ấy, các hiệu buôn trong Nam có in những tập thơ mỏng với mục đích quảng cáo hàng hóa như Tống Trân Cúc Hoa, Chàng nhái kiến tiên v.v… 

Người dân thôn quê Phú Yên coi đây cũng là một thứ “nhựt trình” tương tự tờ nhật báo, hoặc báo chí nói chung. Và người ta cũng chỉ biết có một người làm nhựt trình nổi tiếng là ông Trương Vĩnh Ký, nên tưởng “nhựt trình” nào cũng của Trương Vĩnh Ký cả.

Những câu bài chòi dùng trong tập thơ này để hô, tức là hô theo “Nhựt trình Vĩnh Ký đặt ra”, hô theo sách vở. Những câu tự sáng tác cũng bắt đầu như vậy, mượn cái nhãn “nhựt trình Vĩnh Ký”, ngụ ý rằng đây cũng là “nói có sách, mách có chứng”, nói những điều  đáng tin cậy” (tr. 360).

Chưa hết, tờ tuần báo Nam Kỳ phát hành từ năm 1899, có ghi rành rành: “Nhựt trình Nam Kỳ in ra mỗi ngày thứ 5 trong tuần lễ”. Ngộ chưa?

Ở đời có nhiều điều ngộ lắm, tài thánh gì có thể biết hết. Chẳng hạn, tháng 11-1999, Đại hội đồng UNESCO đã quyết định công bố ngày 21-2 hằng năm là Ngày quốc tế tiếng mẹ đẻ. 

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ nhất ngày này tại trụ sở UNESCO, câu: "Trong dãy ngân hà các ngôn ngữ, mỗi từ là một vì sao" đã được dịch ra 84 thứ tiếng. Câu cực hay này, không thấy trong từ điển mở vi.wikipedia. Này, có phải thời Trung cổ, người ta dùng chữ để… chữa bệnh? 

Trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (NXB Đà Nẵng - 1997) ghi nhận: "Định thức ABRACADABRA khá thông dụng trong suốt thời Trung cổ. Người ta quan niệm, chỉ cần đeo ở cổ một lá bùa chữ sắp xếp theo hình tam giác như dưới đây, là có thể giải trừ nhiều bệnh tật - kể cả bệnh sốt rét:

ABRACADABRA
ABRACADABR
ABRACADAB
ABRACADA
ABRACAD
ABRACA
ABRAC
ABRA
ABR
AB
A

Từ này phát sinh từ một thành ngữ tiếng Do Thái cổ: "Abreg ad brôbra" có nghĩa là: "Hãy đánh sét đến chết". Trong tiếng Do Thái cổ, nó có 9 chữ cái. 

Sự bố trí chữ A ở cạnh trái của hình tam giác có ý nghĩa phương thuật, do sự lặp lại 9 lần chữ cái này. Cần phải xem xét cái hình này theo ba chiều: khi ấy nó sẽ biểu thị cho một cái phễu, mà ở đó những chữ cái màu nhiệm chạy chéo từ miệng phễu xuống dưới cổ thắt lại, tạo thành những tuyến lực của một nơi nước xoáy mãnh liệt; thật bất hạnh cho những sức mạnh nào bị cuốn vào đấy: chúng sẽ biến mất vĩnh viễn khỏi thế gian này và chìm xuống vực thẳm, mà từ nơi ấy không một cái gì có thể trở lại dương thế. 

Định thức ABRACADABRA, theo tinh thần ấy, ứng với những mối âu lo khiến con người phải sáng chế ra các thứ bùa yểm, bùa chú, bùa hộ mệnh”.

Mà những chuyện lý thú này, thời chưa có Internet, phải mày mò, cắm đầu vào từng trang sách, ghi ghi chép chép. Nay, đã khác. Xét ở một góc độ nào đó, ông Google khiến cho người ta cảm thấy khó viết hơn. Viết làm gì nữa, khi mà thông tin gì cần tìm hiểu cũng đầy ắp, chỉ cần một cú click chuột là xong. Nghĩ cũng nản. Nhìn lại những gì đã một thời mày mò, tìm hiểu để viết - rồi so với thông tin đã có trên Internet cũng nản nốt. 

Ngày kia trao đổi chuyện này với chị bạn đồng nghiệp đã về hưu. Chị kể, đại khái, với những gì đã viết suốt năm tháng thanh xuân, chị đều giữ lại. Ngày kia, sau một cuộc cãi vã với vợ, ông chồng tình cờ đọc lại và nhận xét: “Trời, những chuyện này, trên Internet có đầy. So ra, thời đó, cô viết như hạch”. Xin lỗi, không viết đầy đủ. 

Nhận xét ấy, kể ra ác quá đi chứ. “Thế chị trả đũa ra làm sao?”. Chị tủm tỉm cười: “Lúc đó, cáu quá chị mới bảo: Suốt hơn hai mươi năm trời, tôi đã nuôi bố con ông bằng nhuận bút từ cái như hạch ấy đấy!”.

Đáo để thật.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?