Trót say câu ví đò đưa…

Trong kho tàng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, đặc sắc nhất là dân ca ví, giặm. Loại hình nghệ thuật dân ca này phổ biến trong đời sống của các cộng đồng người xứ Nghệ; được lưu truyền từ đời này sang đời khác, được hát trong hầu hết mọi hoạt động đời thường; từ ru con, dệt vải, trồng lúa, chèo đò…

Nét đặc sắc của Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được vinh danh (đến thời điểm 2014). Trước đó là: Nhã nhạc Cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca Quan họ Bắc Ninh (2009), Ca trù (2009), Hội Gióng (2010), Hát Xoan Phú Thọ (2011), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012), Đờn ca Tài tử Nam Bộ (2013).

Từ xa xưa Nghệ Tĩnh là miền biên giới cực Nam của quốc gia Đại Việt. Nơi đây đã hình thành nên hai vùng văn hóa dân gian song song tồn tại. Đó là văn hóa dân gian của các dân tộc thiểu số sống rải rác khắp miền Tây rộng lớn (chiếm 2/3 diện tích tự nhiên) và văn hóa dân gian của người Việt (Kinh), sống ở miền trung du, đồng bằng và ven biển.

Trong kho tàng văn hóa dân gian Nghệ Tĩnh, đặc sắc nhất là dân ca ví, giặm. Loại hình nghệ thuật dân ca này phổ biến trong đời sống của các cộng đồng người xứ Nghệ; được lưu truyền từ đời này sang đời khác, được hát trong hầu hết mọi hoạt động đời thường; từ ru con, dệt vải, trồng lúa, chèo đò…

Hát dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh trên sông Lam.
Hát dân ca ví giặm Nghệ Tĩnh trên sông Lam.

Lời ca của ví, giặm ca ngợi những giá trị truyền thống như sự tôn trọng các bậc cha mẹ, những nghĩa cử cao đẹp, lòng chung thủy, tận tụy vì người khác cũng như những đức tính trung thực và cách ứng xử giữa người với người…

Ví, giặm là loại hình dân ca ra đời trong đời sống của người dân xứ Nghệ Tĩnh, gắn liền với các hoạt động, hành động: cày bừa, cấy, gặt, xay lúa, giã gạo, dệt vải, ươm tơ, kéo sợi, chèo đò… Điều đặc biệt, ngôn ngữ của ví, giặm được sáng tạo mang hơi thở cuộc sống hàng ngày đặc trưng của vùng đất với những thổ ngữ, tiếng địa phương mà vẫn chấp nhận được và cũng chính điều này đã làm nên bản sắc riêng của ví, giặm.

Ví thường là hát tự do, người hát có thể co dãn một cách ngẫu hứng, không có tiết tấu từng khuôn nhịp. Âm điệu cao thấp ngắn dài tùy thuộc vào lời thơ (ca từ) bằng hay trắc, ít từ hay nhiều từ. Thể hát ví có nhiều điệu như: ví đò đưa, ví phường vải, ví phường cấy, ví phường võng, ví đồng ruộng, ví ghẹo, ví mục đồng, ví trèo non…

Chất liệu ngôn ngữ của ví thường là các thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, lục bát biến thể… Hát ví thường nghe mênh mang sâu lắng, bâng khuâng xao xuyến, tha thiết ân tình; tuy nhiên vẫn có loại nghe dí dỏm, hài hước hay nghịch ngợm, hồn nhiên tươi trẻ như ví ghẹo, ví mục đồng.

Giặm rất giàu tính tự sự, tự tình, kể lể khuyên răn, phân trần giãi bày. Giặm cũng có nhiều làn điệu như: giặm cửa quyền, giặm ru, giặm vè, giặm kể, giặm nối, giặm xẩm. Thông thường một bài giặm có nhiều khổ, mỗi khổ có 5 câu, mỗi câu có 5 từ; nhưng nhiều khi có những bài giặm không phân khổ rõ ràng mà cứ hát một lèo từ vài chục đến hàng trăm câu, và cũng không nhất thiết là mỗi câu 5 chữ. Giặm là thể hát nói có tiết tấu rõ ràng, có phách mạnh phách nhẹ, có nhịp nội nhịp ngoại. Giặm cũng có loại dí dỏm khôi hài, châm biếm trào lộng và trữ tình giao duyên.

Hát ví, giặm không đòi hỏi nhiều về kỹ thuật, người hát không phải luyện tập, người dân nào cũng có thể hát được, tự nhiên như chính cuộc sống cất lên thành lời ca vậy; khác với hát quan họ hay ca trù. Họ hát ngẫu hứng trong hoạt động đời thường. Tính ngẫu hứng là một đặc trưng rất rõ trong hát ví, giặm Nghệ Tĩnh.

Giáo sư Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống dân tộc cũng là người đã góp sức đáng kể trong việc hoàn thành bộ hồ sơ về dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trình UNESCO đã đặc biệt nhấn mạnh sự phong phú trong cách luyến láy rất hay của giai điệu dân ca ví, giặm.

Môi trường diễn xướng của hát ví, giặm là chính cuộc sống của những người nông dân xứ nghệ; khác hẳn môi trường diễn xướng nhiều loại hình dân ca đã được vinh danh. Hát ví, giặm có thể hát ở bất cứ đâu, đang đi đường, đang chèo đò, quay tơ, dệt vải, đối đáp, giao duyên…

UNESCO đã khẳng định, nghệ thuật hát ví, giặm Nghệ Tĩnh đã thỏa mãn các tiêu chí để đủ điều kiện trở thành một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại như: được truyền từ đời này sang đời khác trong các cộng đồng người Việt ở vùng Nghệ Tĩnh.

Các bài dân ca ví, giặm đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của họ, biểu đạt lối cảm, lối nghĩ của họ. Với môi trường diễn xướng gắn liền với đời sống lao động, ví, giặm Nghệ Tĩnh được hát không kèm theo nhạc điệu trong bất cứ hoạt động đời sống nào từ trồng lúa, ru con, dệt vải, tự tình trai gái…

Không gian xưa, nay và ý thức bảo tồn

Sản sinh trên mảnh đất cực Nam của Đại Việt xưa, cũng là mảnh đất chịu nhiều khắc nghiệt của thiên nhiên; phải chăng chính vậy những câu hát, làn điệu ví, giặm Nghệ Tĩnh đã khiến con người nơi đây vượt qua mọi gian lao cuộc sống để mãi mãi yêu cuộc sống; đồng thời gửi vào đó những chan chứa nghĩa tình. Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là tiếng lòng sâu thẳm của cư dân nơi đây.

Được kết tinh từ những tập quán sinh hoạt và hợp lưu các dòng văn hóa bên ngoài nên dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh có những nét độc đáo riêng không thể trộn lẫn. Hơn nữa, đây cũng chính là vùng đất của rất nhiều bậc hiền tài, danh nhân và họ trực tiếp tham gia sáng tác, biểu diễn nên dân ca ví, dặm có những thời kỳ tồn tại rực rỡ với lời ca đậm tính văn chương. Điều đó tạo sức sống nội sinh bền bỉ cho dân ca ví, giặm.

Trải qua bao đời, dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh tồn tại bởi hai yếu tố chính: môi trường lao động thôn quê đặc trưng và khu biệt của vùng Nghệ Tĩnh, và sự truyền dạy đời này qua đời khác (đây cũng là sự tồn tại của một số loại hình văn hóa dân gian đã được tôn vinh, như Quan họ Bắc Ninh, hát Xoan Phú Thọ…).

Không gian xưa hiện cứ mỗi ngày mai một, thay dần vào đó là cuộc sống đô thị và hiện đại. Ý thức được điều đó, lãnh đạo của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh (trước là tỉnh Nghệ Tĩnh) ngay từ những năm tám mươi của thế kỷ trước đã có những bước đi đúng đắn, nhằm khôi phục và phát huy dòng dân ca bản địa mang đậm nét riêng của mình. Đây cũng là kinh nghiệm quý và bài học chung cho vấn đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống Việt Nam.

Cùng với việc sưu tầm, nghiên cứu các thể loại dân ca ví, giặm thì các hình thức biểu diễn, truyền dạy, sân khấu hóa, phát triển ca khúc dựa trên chất liệu dân ca, sáng tạo các làn điệu mới… đã góp phần to lớn trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị của loại hình văn hóa đặc sắc này.

Trong nhiều năm, Trung tâm Bảo tồn và Phát huy di sản Dân ca xứ Nghệ (trước đây là Nhà hát Dân ca Nghệ An) không chỉ nỗ lực, cố gắng trong việc bảo tồn mà còn phát huy tốt di sản dân ca ví, giặm. Chính các làn điệu truyền thống ấy đã được các nghệ sỹ, diễn viên của trung tâm thổi vào hơi thở mới, nhịp điệu mới, lời mới... làm nên thương hiệu "vàng" cho nhiều vở diễn tại các hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc như: "Mai Thúc Loan", "Vết chân tròn trong bão tố", "Danh nhân lớn lên từ câu hò ví, giặm", "Soi vào quá khứ", "Một cây làm chẳng nên non", "Người thi hành án tử hình", "Góc khuất đời người", "Đường đua trong bóng tối", "Lời Người - lời của nước non"… Mỗi nghệ sỹ, diễn viên của Trung tâm còn là một tuyên truyền viên tích cực, đã chắp cánh cho các làn điệu dân ca ví, giặm xứ Nghệ Tĩnh lan tỏa khắp mọi miền đất nước.

Theo thống kê, tại hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh hiện vẫn còn 260 làng có thực hành dân ca ví, giặm với trên 1.500 thành viên.

GS-TS Trần Quang Hải (Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp) đã trăn trở: "Hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có các chương trình đưa dân ca vào trường học một số năm nay. Đó là bước đầu để trẻ em thấy đó là niềm tự hào của địa phương. Rất nhiều nhạc sĩ đã tìm thấy niềm cảm hứng để tạo ra những bài thanh nhạc rất hay. Những hình thức đó có thể là bước đầu của sự giải tỏa vấn đề khó khăn trong bảo vệ âm nhạc cổ truyền, dân ca, mà vấn đề này cần phải huy động trên toàn quốc chứ không phải một vùng, địa phương mà thôi.

Dân ca có thể trình bày bằng nhiều khía cạnh khác nhau. Đó là sân khấu hóa, làm sao đem những bài dân ca phù hợp trên bình diện, khung cảnh mới cho thấy dân ca có thể tiến tới một hình ảnh khác, hình thức khác, phương cách biểu diễn khác và đem được niềm vui cho thế hệ trẻ".

Như vậy có thể thấy rằng, song hành việc lưu giữ, tạo dựng một không gian, môi trường văn hóa, diễn xướng xưa cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh thì sự kế thừa, kết hợp giữa xưa và nay, đồng thời sáng tạo ra những giá trị mới của dân ca ví, giặm là vô cùng quan trọng. Ví, giặm phải sống nhịp sống của hôm nay, thở nhịp thở của xã hội hôm nay và tự tạo cho mình tính thời đại bằng chính khả năng biểu đạt linh hoạt và phong phú của mình.

Trót say câu ví đò đưa
Cũng đành cà mặn, nhút chua một đời

Cái chất dân ca xứ Nghệ thấm đẫm con người của vùng đất này đến vậy, hẳn nhiên không thể mai một, để trong thời hiện đại nhạc sĩ Vũ Ngọc Quang phải tiếp giọng dân ca trong một ca khúc của mình: "Em yêu anh như yêu câu ví, giặm/ Giận thì giận mà thương lại càng thương".

Nội lực và sức sống của dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh chính là yếu tố dân dã và tính phổ cập sâu rộng trong nhân dân của vùng Nghệ Tĩnh. Gìn giữ và phát huy những giá trị văn hóa đặc sắc của dân tộc, khi đã được thế giới tôn vinh vẫn luôn là vấn đề không dễ trong thời đại hội nhập văn hóa hôm nay.

Cao Minh

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.