Tranh dân gian Đông Hồ - Di sản cần bảo vệ khẩn cấp

Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ vừa chính thức được UNESCO ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, tại Kỳ họp lần thứ 20 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO.

Sự kiện đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong hành trình 11 năm kiên trì lập hồ sơ, vận động và bảo vệ di sản của tỉnh Bắc Ninh cùng các bộ, ngành, chuyên gia, đặc biệt là cộng đồng nghệ nhân làng tranh Đồng Hồ - những người đã giữ lửa truyền thống qua nhiều thăng trầm, dâu bể.

ngh%3f nhân hoàn thi%3fn b%3fc tranh ðông h%3f.jpg -0
Nghệ nhân hoàn thiện bức tranh Đông Hồ.

1. Tranh dân gian Đông Hồ là nghề làm tranh khắc gỗ dân gian, thuộc lĩnh vực nghề thủ công truyền thống, được cộng đồng dân làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh sáng tạo và phát triển từ mấy trăm năm qua, có giá trị về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật đặc sắc. Đây là dòng tranh gắn bó và thể hiện sinh động xã hội nông nghiệp Việt cổ truyền, cuộc sống lao động của người nông dân bình dị, chất phác, phong tục, tập quán, sinh hoạt của người dân Việt.

Để thể hiện một bức tranh, ngoài bản nét đen chủ đạo, tranh mẫu có bao nhiêu màu thì cần bấy nhiêu bản gỗ khắc in màu tương ứng. Đặc biệt, giấy in là loại giấy dó truyền thống, có quét điệp và màu sử dụng in tranh được chế từ nguồn gốc tự nhiên, như màu vàng của hoa hòe, màu đỏ của hoa hiên, màu trắng từ bột vỏ sò, điệp và màu đen của than lá tre.... Những màu sắc tự nhiên, dung dị nhưng cũng vô cùng độc đáo.

Theo nghiên cứu của Cục Di sản, về thể loại, dựa vào nội dung chủ đề, có thể chia tranh Đông Hồ thành 7 loại chính, gồm tranh thờ, tranh chúc tụng, tranh lịch sử, tranh truyện, tranh phương ngôn, tranh cảnh vật và tranh phản ánh sinh hoạt. Khi sáng tác mẫu tranh, các nghệ nhân thường sử dụng bút lông và mực Nho để vẽ lên giấy bản mỏng và phẳng để người thợ khắc, đục ván theo mẫu.

Việc sáng tác mẫu tranh không phải là việc của riêng các nghệ nhân mà thường là kết quả chung của một làng tranh, của nhiều thế hệ. Cũng chính vì thế mà trong tranh Đông Hồ, có trường hợp một mẫu nhưng có nhiều dị bản khác nhau, hoặc một mẫu tranh cũng có đến hai, ba cách phân bố màu khác nhau. Vì vậy, có nhiều mẫu tranh cổ đến nay chúng ta cũng chưa xác định được chủ nhân sáng tạo.

Về giá trị nghệ thuật, so với các dòng tranh khác, tranh dân gian Đông Hồ có tính biểu trưng, trang trí nhưng vẫn giữ được nét mộc mạc, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người dân vùng châu thổ Bắc Bộ, độc đáo trong việc sử dụng đường nét tiết giản và những mảng màu dẹt đều, là màu tự nhiên của cỏ cây, hoa lá, tươi sáng trên nền giấy dó quét điệp óng ánh.

Tranh dân gian Đông Hồ phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, vật chất của con người, xã hội theo quan điểm mỹ học dân gian của người dân nơi đây. Đó là những bức tranh khắc họa ước mơ ngàn đời của người lao động về cuộc sống gia đình thuận hòa, ấm no, hạnh phúc, về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Tranh dân gian Đông Hồ góp phần không nhỏ vào việc lưu giữ những vốn văn hóa truyền thống của dân tộc, làm cho đời sống tinh thần của người Việt Nam thêm phong phú.

2. Sau năm 1945, nghề làm tranh dân gian Đông Hồ đứng trước nguy cơ mai một, không có người đến mua tranh. Do đó, các gia đình chuyển sang làm hàng mã. Cuộc sống đã thay đổi, nhu cầu tiêu thụ hàng hóa cũng đã khác khiến người dân không còn nhu cầu mua và sử dụng tranh Đông Hồ trang trí mỗi dịp Tết đến. Hiện nay, tranh Đông Hồ không còn được bày bán rộng rãi mà chỉ còn là một món đồ lưu niệm hoặc xuất hiện trong các sự kiện giao lưu văn hóa. Tranh cứ thế mai một dần.

Theo thống kê mới đây, số lượng nghệ nhân hiện chỉ còn 3 người, số lượng người thực hành khoảng 20 người, số nghệ nhân hiện còn khả năng truyền dạy chỉ còn 2 người (ông Nguyễn Hữu Sam và ông Nguyễn Đăng Chế) đều đã cao tuổi.

tranh dân gian ðông h%3f.jpg -1
Tranh dân gian Đông Hồ.

Ngoài ra, theo đánh giá của một số họa sĩ, tranh Đông Hồ không còn mang tính hồn nhiên, chất phác, “thuần Việt” như xưa, mà đang dần bị thương mại hóa, không có màu sắc thắm như tranh cổ, do người ta trộn màu trắng vào điệp để tiết kiệm lượng điệp, khiến giấy mất độ óng ánh. Đồng thời, màu sử dụng cũng chuyển sang dùng loại màu công nghiệp cho rẻ và tiện, các bản khắc mới thường thô và sơ sài, không được tinh tế như bản cổ. Đặc biệt, một số bản khắc đã bị đục bỏ phần chữ Hán, hoặc chữ Nôm, vốn là một phần cấu tạo nên bố cục của tranh, khiến tranh bị mất đi tính hoàn chỉnh.

Trong bối cảnh đó, việc UNESCO ghi danh tranh Đông Hồ là Di sản cần bảo vệ khẩn cấp thực sự có ý nghĩa. Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Đạo Cương, Trưởng đoàn Việt Nam tham dự kỳ họp cho rằng, việc này thể hiện sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những giá trị độc đáo, lịch sử và ý nghĩa nhân văn sâu sắc của dòng tranh dân gian đã gắn bó với đời sống văn hóa người Việt hàng trăm năm qua, đồng thời là một sự ghi nhận kịp thời đối với một di sản đang đứng trước nguy cơ cao bị mai một.

Ngay sau khi di sản được UNESCO ghi danh, tỉnh Bắc Ninh triển khai chương trình hành động bảo vệ khẩn cấp nghề làm tranh dân gian Đông Hồ theo đúng cam kết quốc tế như củng cố lực lượng nghệ nhân, mở các lớp truyền dạy và đào tạo thế hệ kế cận, bảo đảm nghề có người tiếp nối lâu dài… Nhưng di sản chỉ thực sự sống và bền vững từ chính cộng đồng. Vì thế, điều cần hơn nữa là chính sách khuyến khích, hỗ trợ các nghệ nhân - chủ thể của di sản sáng tạo, truyền dạy cho các thế hệ trẻ, để nối dài đời sống của di sản.

Chúng ta cũng cần tăng cường hợp tác quốc tế để nghiên cứu, học tập mô hình hay, hiệu quả của các quốc gia trên thế giới trong việc bảo tồn, phát huy giá trị và quảng bá di sản tranh dân gian Đông Hồ ra quốc tế. Và điều mấu chốt là cần đẩy mạnh truyền thông, xây dựng đa dạng sản phẩm trải nghiệm, kết nối thị trường để người làm nghề có sinh kế bền vững.

Theo Ủy ban Liên Chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, Hồ sơ đề cử di sản văn hóa phi vật thể Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ của Việt Nam đáp ứng các tiêu chí ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, cụ thể:

1. Tranh dân gian Đông Hồ gắn bó mật thiết với các lễ tiết quan trọng như Tết Nguyên đán và Tết Trung thu, cũng như các nghi lễ thờ cúng tổ tiên và thần linh. Ngày nay, chỉ còn một số ít gia đình tiếp tục duy trì nghề này, truyền lại tri thức và kỹ năng trong phạm vi gia đình và cho người học việc thông qua hướng dẫn trực tiếp và kèm cặp thực hành. Một số công đoạn như vẽ mẫu và khắc bản in đòi hỏi đào tạo chuyên sâu và tích lũy kinh nghiệm trong nhiều năm. Các bản khắc gỗ được xem như báu vật gia truyền, được truyền lại qua nhiều thế hệ.

2. Số lượng nghệ nhân lành nghề đã giảm mạnh (theo hồ sơ đề cử, chỉ còn vài hộ gia đình duy trì nghề), do thế hệ trẻ ít quan tâm, nghề khó bảo đảm sinh kế, và nhu cầu sử dụng tranh in khắc gỗ trong các dịp lễ truyền thống giảm sút. Số người có tay nghề cao và tâm huyết theo đuổi nghề đã quá ít để duy trì việc truyền dạy và làm tranh, nên nghề cần được bảo vệ khẩn cấp.

3. Kế hoạch bảo vệ đề ra các mục tiêu, bao gồm: mở các lớp truyền nghề, kiểm kê di sản, thiết kế mẫu, đa dạng hóa thị trường, cải thiện khả năng tiếp cận nguồn nguyên liệu và cung cấp thiết bị bảo hộ cho nghệ nhân. Các hoạt động được đề xuất khả thi, phù hợp với mục tiêu và có tính bền vững, đồng thời đặt cộng đồng ở vị trí trung tâm.

4. Hồ sơ cho thấy sự tham gia tích cực của cộng đồng, đặc biệt là các gia đình làm nghề, trong toàn bộ quá trình lập hồ sơ, thông qua các hoạt động kiểm kê và sự kiện công chúng.

5. Di sản đã được đưa vào Danh mục kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể, được cập nhật thường xuyên với sự tham gia của cộng đồng.

Linh Nguyễn

Các tin khác

Khi yêu thương nối dài qua năm tháng...

Khi yêu thương nối dài qua năm tháng...

Từ những giai điệu thấm đẫm tình quê hương đến những câu chuyện lay động lòng người, chương trình nghệ thuật "Kết nối yêu thương" gửi đi thông điệp giản dị mà sâu sắc: Không ai nên đơn độc trước nghịch cảnh. Đằng sau mỗi người phụ nữ đau yếu, mỗi em nhỏ mang bệnh hiểm nghèo là một phận đời cần được chở che, một ước mơ cần được níu giữ. Khi những trái tim cùng rung lên nhịp đập yêu thương, nghệ thuật không chỉ chạm đến cảm xúc mà còn khơi dậy trách nhiệm cộng đồng, thắp lên hy vọng cho những cuộc đời còn nhiều gian khó.

Cuộc đối thoại tinh tế của các nền văn hóa

Cuộc đối thoại tinh tế của các nền văn hóa

Liên hoan phim (LHP) Tài liệu châu Âu – Việt Nam lần thứ 16 (diễn ra từ ngày 18 đến ngày 26/9) quy tụ 25 tác phẩm điện ảnh tài liệu đặc sắc đến từ Việt Nam và các quốc gia châu Âu. Đây không chỉ là “bữa tiệc” điện ảnh, mở ra cơ hội giao lưu, hợp tác giữa những người làm nghề mà còn là cầu nối để dòng phim đặc biệt này đến gần với công chúng hơn.

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.