Từ đất trống tạm cư
Cả nhà tôi, 3 thế hệ đều lớn lên và gắn đời mình với khu Bàn Cờ. Mấy cái hẻm nhỏ đan vào nhau thông ra những sạp hàng cứ vậy mà đi cùng tuổi thơ tôi. Hồi đó, trong ký ức non dại của đám trẻ chúng tôi, dân Bàn Cờ là sướng nhất đi đâu cũng gần xịu.
Tỷ như chạy bộ một mạch đường Trần Minh Quyền là thông ra Ba Tháng Hai thấy ngay chùa Việt Nam Quốc Tự, mấy ngày rằm có phát đồ chay miễn phí. Cứ sau giờ học là cả đám rủ nhau tàng tàng đi bộ cũng chỉ 10 phút là có ngay bát bún riêu chay, hay ly sắn dây mát lành. Hay như dân Bàn Cờ sát bên bệnh viện Nhi Đồng, đi khám thì dễ như trở bàn tay, không như dân ở xa đổ về, đôi khi ròng rã mấy tiếng đồng hồ mới tới cái bệnh viện nhi lẫy lừng nhất nước thời ấy. Cũng vậy, dân Bàn Cờ theo đường Cao Thắng mất chỉ 5 phút là đến ngay bệnh viện Từ Dũ. Hầu như đám trẻ khu Bàn Cờ toàn là sanh ở bệnh viện đó.
Ngược dòng lịch sử, khu Bàn Cờ đã có từ đầu thế kỷ XX. Lúc đó, nơi đây chỉ là ven đô thị của Sài Gòn thời Pháp. Khu trung tâm tính từ bến Nhà Rồng đến khu Chợ Đũi (khách sạn New Word bây giờ). Những năm 1940, Pháp bắt đầu có kế hoạch mở rộng đô thị Sài Gòn về hướng Chợ Lớn, lấy từ vùng đất trống từ đường Verdun (thời Mỹ là đường Lê Văn Duyệt – nay là Cách Mạng Tháng Tám) đổ xuống đại lộ Hui Bon Hua (nay là đường Lý Thái Tổ). Theo chính sách đó, khu đất trống (Bàn Cờ) được lên bản vẽ, chia lô vuông vức, ngay ngắn với những đoạn đường được làm nối trục dọc ngang rất bài bản.
Tuy vậy cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954 đã khiến nhiều người dân ở các tỉnh xa “chạy giặc” về Sài Gòn như thác lũ. Nội tôi cũng từ miệt đồng tứ giác An Giang mà chạy về lần đó. Chính quyền Pháp thời ấy phải bỏ dở các kế hoạch xây dựng khu Bàn Cờ theo họa đồ mà chuyển vùng đất này thành “khu tạm cư” tiếp nhận người tứ xứ đổ về.
Đến năm 1957, khu Bàn Cờ bắt đầu mới thay da đổi thịt. Cư xá Đô Thành ra đời theo quy hoạch mới dành riêng cho công chức bậc thấp và bậc trung. Rồi trường Petrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong) được phân lại, chia bớt đất cho "Khoa học Đại học đường" (nay là Đại học Khoa học tự nhiên), Đại học Sư phạm, Trường Sư phạm Sài Gòn.
Theo đó, khu Bàn Cờ bắt đầu quy tụ thêm công chức, nhà giáo, sinh viên, và các ý tá, bác sĩ của bệnh viện Bình Dân ngay đó dọn về ở. Cùng một số dân tạm cư cũ của đất này tạo thành một cộng đồng cư dân đa dạng.
Nhưng với dân Bàn Cờ, cột mốc của sự phát triển phải là những năm 1969-1970, dẫu thời đó chiến sự ác liệt, đạn pháo rơi nhiều, nhà cháy như cơm bữa nhưng sự tái thiết lại diễn ra nhanh. Các khu nhà lụp xụp được thay thế bằng chung cư. Có thể nói chung cư Nguyễn Thiện Thuật chính là chung cư thuộc dạng bình dân đầu tiên của Sài Gòn. Dân nhà lá Bàn Cờ nay bắt đầu lên lầu ở nhà gạch. Cuộc sống thay đổi nhiều. Dãy nhà mặt tiền cũng thay diện mạo mới, khang trang hơn, tạo thành nơi buôn bán tấp nập.
Đến “tiểu Sài Gòn” giữa thị thành
Mãi sau này, khi lớn lên cùng Bàn Cờ, tôi nghĩ, khu này như một “tiểu Sài Gòn”. Dân Bàn Cờ bao gồm đầy đủ cả người Bắc - Trung - Nam, rồi còn có người Hoa, một ít người Cam chạy loạn từ Svay Riêng. Vậy nên chợ Bàn Cờ cũng là một trong những chợ nổi tiếng của Sài Gòn từ trước đến giờ.
Trong bài vè chợ mà hồi nhỏ tôi được nghe nội đọc đến giờ mình vẫn còn thuộc: “Nghe vẻ nghe ve, nghe vè cái chợ. Sớm mơi xách rổ, đi giáp một vòng… Tướng sĩ xe pháo, là chợ Bàn Cờ”. Câu vè chơi chữ nhưng khéo lại khiến dân Bàn Cờ nhớ như in trong đầu mình. Điều đặc biệt là chợ Bàn Cờ không xây nhà lồng. Tất cả các sạp bày biện theo lô, gọn gàng như quân cờ được sắp nhịp nhàng theo chiều dọc và ngang của từng hẻm luồng.
Năm 11 tuổi, tôi còn lơ ngơ đã được má tập đi chợ, cứ canh chợ trưa, đi dễ trả giá, mua cái này lại xin thêm cái kia. Chợ sắp dọn nên mấy ngoại mấy dì bán buôn thấy thằng nhỏ lon ton cắp cái giỏ thì thương tình mà cho thêm. Tỷ như mua trái bầu thì xin mớ hành ngò để nêm. Mua miếng thịt xin thêm chút mỡ về thắng lại để chiên xào nấu nướng. Mua giỏ cá hấp thì xin thêm mớ cá vụn để về cháy lên, xé nhỏ làm chà bông.
Mà ngộ là đi miết thành quen, từ mảnh giấy nhỏ má ghi cho tôi mang theo để nhớ, đến hơn tháng sau là tôi thuộc hết ngóc ngách, sạp hàng, món ăn cần gì. Mấy ngoại, mấy dì cũng quen luôn thằng nhỏ lơ ngơ ngày đó, cứ tầm 11 giờ trưa thấy tôi ra chợ lại réo tôi hỏi nay má dặn mua gì?
Chợ Bàn Cờ ngày ấy nổi tiếng có một dãy bán đồ “sida” nằm từ đầu hẻm 51 Cao Thắng kéo dài đến giữa ngã tư chợ đổ về khu bán mỹ phẩm. Đồ “sida” là cách gọi của thị dân Sài Gòn chỉ quần áo, giày, túi đeo nhập cũ. Hầu hết là đồ HongKong, đồ Thái Lan, và đồ Mỹ. Nhập thùng, kiện nhưng bán đổ “xôn”. Có nghĩa là đổ đống, ai mua cứ sà vào lựa và trả giá.
Dân sành điệu hay tìm về chợ Bàn Cờ lựa đồ si, thậm chí thập niên 90 nhiều sạp đồ si quen mặt ca sĩ, diễn viên. Dãy đồ si này cũng có một sạp rất nổi tiếng, đó là sạp hàng của một nữ nhà thơ. Chị bán dễ tính, lại hay có hàng mới, giá cả lại không thách. Đến bây giờ tôi vẫn hay ghé đến tìm kiếm những mẫu quần áo hay túi đeo thuộc dạng hàng “độc, lạ” từ sạp của chị.
Khu chợ Bàn Cờ còn có tiệm chè Hiển Khánh trứ danh Sài Gòn. Tiệm chè ra đời từ năm 1965, chuẩn vị chè Bắc thu hút rất nhiều người yêu thích. Chè Hiền Khánh như một phần ký ức của dân Bàn Cờ. Hơn nửa thế kỷ, chè Hiển Khánh vẫn sáng chiều đón khách. Ba thế hệ trôi qua nhưng vị chè vẫn níu lòng người Bàn Cờ và trở thành một phần ký ức của thị dân Sài thành.
Cũng theo dòng chảy món Bắc, ngay chợ Bàn Cờ có bánh mỳ Hòa Mã ở đường Cao Thắng “số dách” trong lòng dân Sài Gòn. Đi qua thăng trầm của dâu bể đất này. Bánh mỳ Hòa Mã đến giờ vẫn nườm nợp khách mỗi buổi sáng, thậm chí ngày cuối tuần thì chỉ cần đi trễ là không có chỗ ngồi.
Ai rành chợ Bàn Cờ thì chắc không quên cái hẻm Mỹ Hương trên đường Nguyễn Thiện Thuật. Hẻm Mỹ Hương này bán những món Hoa khá nổi tiếng. Và trứ danh nhất chính là cháo Tiều. Hồi ấy, cháo Tiều ở đây giá đắt như nhà hàng 5 sao. Cháo được nấu theo từng tô. Khách đứng chờ xếp hàng dọc dài. Ngoài ra suốt con hẻm là hủ tiếu, bánh cuốn, bột chiên, chè sâm bổ lượng, mỳ xào giòn…
Xôm tụ nhưng không bát nháo, tứ chiếng nhưng tánh tình rất hiền, thập phương tụ lại nhưng lòng thì chung điều trượng nghĩa. Dù có lơ ngơ ở khu này mà gặp đúng dân Bàn Cờ thì tin chắc chẳng thể đi lạc. Dân Bàn Cờ quen lối cộng sinh nên tánh tình ôn hòa, thấy người lạ là sẵn lòng chỉ dẫn. Như cái hồi tôi 11 tuổi tập đi chợ kiểu “xin thêm”, nghiệm ra dân Bàn Cờ sống rất chân tình. Từ tạm cư đến cộng cư, thương nhau, cho nhau còn hổng hết, lấy đâu ra mà khó dễ chi cho mệt thân. Nội tôi hay nhắc về gốc tích dân Bàn Cờ như vậy.