Thi sử, nhìn từ thi tập

Những tập thơ nào góp phần chủ yếu làm nên lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại? Mỗi người đọc, bằng vào sức đọc, sức thẩm và gout thẩm mỹ của mình sẽ có một đáp án cụ thể, và chắc hẳn không phải ai cũng giống ai. Riêng tôi, xin được “cả gan” đưa ra danh sách của mình như sau:

“Mấy vần thơ” của Thế Lữ (1935)

Tập thơ có cái vinh quang của tác phẩm khơi mở cho Thơ Mới tuôn trào thành một dòng chảy mãnh liệt trong thi ca Việt Nam tiền bán thế kỷ XX. Trên thực tế, để nói về sự hình thành của Thơ Mới, người ta phải nói tới những bài thơ “theo lối mới” của Phan Khôi, của Nguyễn Thị Manh Manh từ trước đó. Thậm chí, mươi bài thơ lãng mạn in trong tập “Người sơn nhân” của Lưu Trọng Lư còn xuất hiện trước “Mấy vần thơ” của Thế Lữ hai năm (1933). Thế nhưng, đó chỉ là những dấu hiệu của sự khác lạ trong thơ Việt lúc ấy mà thôi, nó đưa Thơ Mới vào thế phân tranh ảnh hưởng với thơ cũ, rồi dừng lại. Tình hình trở nên khác hẳn khi “Mấy vần thơ” xuất hiện.

Với tập thơ này “Thế Lữ đã đem lại chiến thắng quyết định cho Thơ Mới, đưa Thơ Mới vượt qua tình trạng non nớt chập chững tới chỗ vững vàng thuần thục” (“Từ điển văn học”, bộ mới. Trang 976, Nguyễn Hoành Khung). “Chiến thắng quyết định” ở đây chính là sự thuyết phục tuyệt đối về mặt nghệ thuật. Hàng loạt motif chủ đề và hình tượng cơ bản của thơ ca lãng mạn hiện diện trong “Mấy vần thơ”: sự chán ghét thực tại tầm thường nhàm chán; giấc mơ hướng về dĩ vãng hoặc thoát lên tiên giới; hình ảnh một con người yêu tự do và đi tìm cái đẹp lý tưởng trong thiên nhiên, trong nghệ thuật và trong ái tình.

Tất cả những nội dung rất mới, phản ánh rất trúng tâm thế của thời đại đó lại được phô diễn bằng những hình thức ngôn ngữ và những thi ảnh thật tân kỳ. Không cần phải nhiều lời tung hô, những bài thơ xuất sắc trong tập- như “Nhớ rừng” hay “Tiếng sáo Thiên Thai”- đã đủ là một sự xiển dương cho Thơ Mới. Bởi thế, tập thơ tạo ra sức hấp dẫn rất mạnh đối với công chúng và những người làm thơ đương thời, tới mức Hoài Thanh phải quả quyết: “Độ ấy Thơ Mới vừa ra đời, Thế Lữ như vừng sao đột hiện, ánh sáng chói khắp cả trời thơ Việt Nam. Dầu sau này danh vọng Thế Lữ có mờ đi ít nhiều, nhưng người ta không thể không nhìn nhận cái công của Thế Lữ đã dựng thành nền thơ mới ở xứ này” (“Thi nhân Việt Nam”). 

“Tinh huyết” của Bích Khê (1939)

Sau sự khởi đầu của tập “Mấy vần thơ”, Thơ Mới phát triển rất nhanh và nó đạt tới cao trào với các tập “Thơ thơ” của Xuân Diệu (1938) và “Lửa thiêng” của Huy Cận (1940). Nhưng đó chỉ là một hướng vận động trong phong trào Thơ Mới - hướng lãng mạn chủ nghĩa - và vì thế tôi sẽ nhường vị trí của hai tập thơ này cho tập “Tinh huyết” của Bích Khê. Bởi lẽ, như một vài nhà nghiên cứu có uy tín đã khẳng định, “Tinh huyết” chính là tập thơ đánh dấu mốc mở màn cho giai đoạn thứ hai, cũng là hướng thứ hai của phong trào Thơ Mới: hướng siêu thực chủ nghĩa. Trước đó, trong tập “Gái quê” của Hàn Mặc Tử (1936) và tập “Điêu tàn” (1937) của Chế Lan Viên đã ít nhiều có màu sắc siêu thực chủ nghĩa, nhưng ở Bích Khê nó mới thực sự đậm đặc. 

“Tinh huyết” không nhận được sự chào đón nồng nhiệt của độc giả đương thời, điều đó cho thấy rõ ràng có một “khoảng cách thẩm mỹ” giữa tác phẩm với “tầm đón đợi” của thời đại. Nhưng mặt khác, tập thơ lại phản ánh sự nỗ lực của thơ Việt trên đường cập nhật hóa những tìm tòi của thơ ca thế giới đương đại. Có thể nói, đây thực sự là một bước tiến mới trong thơ Việt Nam lúc ấy. Hoàn toàn không phải vô nghĩa khi sau Bích Khê, nhiều thi sỹ khác đã đi trên con đường thơ siêu thực: Nguyễn Xuân Sanh, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Địch, Đông Hoài, Trần Mai Châu, Hoàng Lộc... Đáng tiếc là với những biến cố lịch sử sau đó nữa, thơ siêu thực không có hoặc có rất ít đất để phát triển trong văn học Việt Nam. Dẫu sao đi nữa, sự tồn tại của thơ siêu thực với vai trò mở màn của tập “Tinh huyết” là một thực tế văn học sử không thể phủ nhận.

“Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm (1959)

Tập thơ xuất bản lần đầu năm 1994, nhưng thực ra đã được tác giả viết từ trên 30 năm trước, trong một hoàn cảnh cá nhân và một bối cảnh xã hội khá đặc biệt. Có thể cho rằng “Về Kinh Bắc” là một sự phát triển tiếp tục, nhưng là phát triển “ngầm”, mang tính “bí truyền”, của dòng thơ siêu thực đã có từ trước năm 1945. “Bốn tám dáng thơ đi tám nhịp/ Tuần du chưa vợi khối ân tình”. Câu thơ đầu nói về cấu trúc “nổi” của tập thơ: 48 bài, chia thành tám phần.

Câu thơ sau nói về cấu trúc “chìm”: “Về Kinh Bắc” là một giấc mơ, trong giấc mơ đó tác giả đã ngụp lặn, đã tận hưởng hồn vía quê hương Kinh Bắc của mình cho thỏa nỗi mong nhớ. Nói như nhà nghiên cứu Đỗ Lai Thúy: “Về Kinh Bắc là một giấc mơ. Giấc mơ với những liên tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc và rất nhiều các khoảng trắng, các dấu lặng... Tất cả trôi đi trong nhịp điệu thôi miên. Giấc mơ Về Kinh Bắc này là sự siêu thăng trong mặc cảm Oedipe, một thực tại siêu thực trong vô thức của Hoàng Cầm” (“Sự ham muốn của bút pháp”. Tr 188).

Từ cái nền vô thức ấy, “Về Kinh Bắc” đã chồi lên như một sự thể hiện rất thơ và rất đậm đặc của những ẩn ức tình dục, ít có tập thơ Việt Nam nào mà “chất sex” lại được thể hiện đậm đặc và thơ đến thế! Với riêng người viết bài này, “Về Kinh Bắc” là tập thơ có những câu hay đến gai người: “Chùa Phật Tích duỗi mình trong lụa bạch/ Tượng Quan Âm má ửng bồ quân/ Chuông chiều cởi yếm, chuông sớm đội khăn/ Câu kinh tê tê mười ngón tay măng” (“Đêm Thủy”). Sau hơn 30 năm mới được in ra và ngay lập tức đã nhận giải thưởng của Hội Nhà văn, có thể nói, “Về Kinh Bắc” là tập thơ được hưởng vinh quang muộn. 

“Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên (1960)

Đối trọng với “Về Kinh Bắc” của Hoàng Cầm là tập “Ánh sáng và phù sa” của Chế Lan Viên. Đối trọng, vì được viết ra gần như cùng một thời điểm, cùng trong một bầu không khí xã hội, nhưng tập thơ của Chế Lan Viên thực sự là sản phẩm của một cái Tôi hữu thức, một tinh thần duy lý. Tính chất duy lý được thể hiện qua trạng thái dằn vặt, giằng xé liên tục giữa “cái Tôi” và “cái Ta”, giữa “trước kia” và “bây giờ” trong chủ thể trữ tình. Nhà thơ đối thoại với chính mình, tự mổ xẻ mình, tự trách mình, tự hạ nhục mình, tự nhận lỗi về mình - cái “mình” bé mọn của “ngày xưa” - để rồi từ đó bật lên niềm khao khát vươn tới ánh sáng lý tưởng của cách mạng, khao khát chất phù sa bồi đắp cho cuộc sống của con người đang “phá cô đơn ta hòa hợp với người”.

Tập thơ của Chế Lan Viên khẳng định mạnh mẽ tư thế và ý thức trách nhiệm của con người nhà thơ - công dân trong thời đại mới. Tư tưởng ấy tạo được sức hấp dẫn rất lớn. Bởi cảm xúc thành thực của nhà thơ, bởi một lối thơ giàu chất suy tưởng, một lối thơ luôn lấp lánh vẻ đẹp của trí tuệ, bởi những câu thơ luôn vận động hướng đến dáng vẻ của những câu châm ngôn mang chân lý phổ quát (ví dụ: Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn), bởi cả trình độ giả kim thuật ngôn từ ở mức điêu luyện của người viết. Với thành công vang dội của tập “Ánh sáng và phù sa”, Chế Lan Viên đã xác lập một vị trí rất cao và vững chắc trên thi đàn cách mạng: ông gần như trở thành người phát ngôn (bằng thơ) cho lý tưởng cách mạng. Nhiều nhà thơ sau đó, như bị một hấp lực đầy ma mị, đã viết như họ không thể thoát khỏi từ trường ảnh hưởng của tập “Ánh sáng và phù sa”.

“Sự mất ngủ của lửa” của Nguyễn Quang Thiều (1992)

Tập thơ của Nguyễn Quang Thiều tạo một quãng cách thời gian trên 30 năm so với tập thơ của Chế Lan Viên. Khoảng thời gian đó ghi nhận lịch sử của 15 năm thơ ca kháng chiến chống Mỹ và gần 20 năm thơ ca thời hậu chiến, nhìn chung, ít có một khác biệt nào đáng kể, nhất là về mặt tư duy nghệ thuật và ngôn ngữ thơ. Sự khác biệt có ý nghĩa đầu tiên, theo tôi, bắt đầu từ tập thơ này của Nguyễn Quang Thiều. (Trước đó, tập “Ngôi nhà tuổi 17” của anh cũng bị lẫn vào diện mạo chung kia). Trong cách đọc cũ, “Sự mất ngủ của lửa” rất trúc trắc, có người nói nó như thơ dịch, mà là dịch “mộc” từ thơ Tây.

Đã vậy, những liên tưởng nghệ thuật trong tập thơ thường xuyên là những liên tưởng “trái khoáy”, theo kiểu những tương quan đối lập để làm nên sắc màu lập thể trong thơ (ví dụ: Tôi trở lại nhặt vành nón gẫy/ Những chân trời gập khúc xuống mùa đông, hoặc: Người nông dân già chiều nay rút rơm khô thổi lửa/ Xa tít một lưỡi cày mơ tên gọi vì sao).

“Sự mất ngủ của lửa” gây sốc cho dư luận, nó “xẻ” người đọc ra làm hai chiều hướng đối lập: khen thì thật khen, mà chê thì cũng thật chê. Chưa nói chuyện thích hay không thích, khen hay chê, nhưng chỉ như vậy, Nguyễn Quang Thiều đã khiến cho những người muốn hiểu anh buộc phải đọc anh bằng một “ngữ pháp thơ” khác, khác với “ngữ pháp thơ” cũ.

Một đóng góp đáng qúy của Nguyễn Quang Thiều ở tập thơ này, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Điệp: “Anh thường trăn trở về sự suy kiệt của cõi thế và khả năng tái sinh của nhân loại” (“Vọng từ con chữ”. Tr 263). Vào thời điểm đó, riêng điều này cũng đã là một giá trị: nó vượt lên sự trăn trở về những vấn đề của một quốc gia dân tộc cụ thể, những vấn đề của cuộc sống con người trong một xã hội cụ thể (khá đặc trưng cho 30 năm thơ trước đó). Có lẽ, nó đã chạm tới cái trăn trở muôn thuở của tồn tại người?

Kể từ “Sự mất ngủ của lửa” của Nguyễn Quang Thiều đến nay, theo ý tôi, chưa xuất hiện một tập thơ nào mang ý nghĩa ngang bằng về mặt văn học sử như vậy, và bởi thế, việc của chúng ta là phải chờ đợi. Cái nhìn của những người khác có thể sẽ khác chăng? Và từ những cái nhìn khác, danh sách những tập thơ làm nên lịch sử thơ ca Việt Nam hiện đại cũng sẽ khác chăng?

Để kết bài, xin được nói thêm rằng: đưa ra danh sách này, người viết không làm nhiệm vụ phân định cao thấp cho các tập thơ (vả chăng, đó thực sự là điều không thể), mà chỉ đơn giản là liệt kê, theo trật tự tuyến tính của thời gian và theo cái nhìn chủ quan, những tập thơ đánh dấu mốc trên các chặng vận động của thơ ca Việt Nam hiện đại mà thôi.

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?