Tại sao phải tĩnh?

Nói đến chuyện "tĩnh" như một tâm thế sống, và cao hơn - một tâm thế ứng xử của trí thức trước thời cuộc, hẳn người Việt Nam chúng ta sẽ nhớ ngay đến Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bởi ông là tác giả của câu thơ nổi tiếng: "Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ/ Người khôn người đến chốn lao xao".

"Chỗ vắng vẻ" là chỗ nào? Và "chốn lao xao" là ở đâu? Giả như thế kỷ XVI đã có Internet thì rất có thể "chỗ vắng vẻ" mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nhắm đến là ở trong lòng mình, còn "chốn lao xao", không đâu khác chính là facebook. 

Phải giả tưởng như vậy để thấy rằng cặp phạm trù vắng vẻ - lao xao là một cặp phạm trù kinh điển, thời nào cũng có. Và ở bất cứ thời đại nào có vẻ như giới trí thức đều phải tìm cho mình một cách ứng xử hợp lý nhất trước cặp phạm trù này.

Những trang tiểu sử của Nguyễn Bỉnh Khiêm kể với chúng ta: mặc dù là một người thông minh, sáng dạ nhưng ông lại chủ động bỏ qua tới 6 khoa thi dưới triều Lê Sơ. Tại sao vậy? 

Có lẽ tại vì ở thời đại của ông, triều Lê Sơ lại một triều đại lao xao - một triều đại khủng hoảng - một triều đại suy tàn. Và ông kiên quyết giữ mình ở nơi "vắng vẻ", thay vì dấn thân vào chốn "lao xao", suy tàn, khó có đất để mình thi thố tài năng. Nếu đúng vậy thì ông đã chủ động chọn cho mình một tâm thế ứng xử với cái "lao xao" ngay từ rất sớm.

Nhưng khi nhà Mạc lên thay nhà Lê thì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn bỏ qua 2 khoa thi đầu tiên ở thời nhà Mạc. Phải chăng vì ông hiểu, mặc dù triều chính đổi thay, nhưng cái bản chất "lao xao" đầy bất trắc thì vẫn còn nguyên đó? 

Phải đến thời Mạc Thái Tông - Mạc Đăng Doanh, khi triều chính bắt đầu ổn định thì Nguyễn Bỉnh Khiêm mới ra ứng thí, và tức thì đỗ Trạng Nguyên. 

Năm ấy trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm đã 45 tuổi - cái tuổi đủ trải nghiệm, đủ già dặn, đủ chín chắn để xác quyết một con đường. Ở tuổi 45, khi chính thức quyết định từ bỏ "nơi vắng vẻ" lâm tuyền để dấn thân vào "chốn lao xao" triều chính, chắc chắn là Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn tận hiến ở cái "chốn lao xao" ấy lâu dài.

Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ...
Nguyễn Bỉnh Khiêm: Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ...

Nhưng cuộc đời không đơn giản thế! Khoảng 8 năm sau, khi Mạc Thái Tông qua đời, Mạc Hiến Tông (Mạc Phúc Hải) lên ngôi, triều đình biến loạn thì Nguyễn Bỉnh Khiêm lại lập tức từ quan, nghĩa là bỏ nơi "lao xao" về nơi "vắng vẻ". 

Giọt nước tràn ly dẫn tới sự thay đổi này là việc tờ sớ xin trị tội những kẻ lộng thần của ông đã không được thông qua. Tuy nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn có mối quan hệ với nhà vua, với cung đình, theo cách này hay cách khác. 

Theo nhiều nguồn lịch sử thì phải đến năm 73 tuổi ông mới từ quan thực sự, quy ẩn thực sự, gắn bó thực sự với "nơi vắng vẻ" quê nhà. Cụ thể là trong hơn 20 năm cuối đời, ông đã dựng am Bạch Vân tại quê nhà, và vẫn được người đời biết đến với hiệu Bạch Vân cư sĩ.

Như vậy, đọc câu thơ nói về mối quan hệ giữa "nơi vắng vẻ" và "chốn lao xao" của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hậu thế nghe trong đó một thái độ dứt khoát, mạch lạc, rõ ràng. 

Nhưng thực tế cuộc sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm nói riêng và những trí thức phong kiến nói chung thì mối quan hệ đó không giản lược, đơn tuyến, một chiều như vậy. Lao xao và vắng vẻ - dấn thân và quy ấn - dại và khôn - động và tĩnh, nó là cả một cuộc giằng xé nội tâm, diễn ra trong những khoảng thời gian kéo dài.

Một số nhà nghiên cứu gọi những trí thức mà cuối cùng chọn "nơi vắng vẻ" làm chốn dung thân như Nguyễn Bỉnh Khiêm là mẫu... những nhà nho ẩn dật.

Có thể nói, nếu những nhà nho hành đạo và những nhà nho tài tử luôn tồn tại trong trạng thái động thì những nhà nho ẩn dật như Nguyễn Bỉnh Khiêm lại tồn tại chủ yếu ở trạng thái tĩnh. 

Theo nhà nghiên cứu Lê Văn Tấn thì ngay trong loại hình nhà nho ẩn dật cũng lại có nhiều trường phái ẩn dật khác nhau. Có người ngay từ đầu đã chọn ẩn dật như một lẽ sống, tuyệt đối không màng đến chốn lao xao. 

Có thể nói, mặc dù là nho sĩ nhưng họ lại là tín đồ trung thành của tư tưởng Lão - Trang cổ điển (Nguyễn Dữ, Nguyễn Hãng, Nguyễn Huy Vịnh). Lại có những người quyết định ẩn dật vì bất đắc chí với triều đại, và không đành lòng với những gì nhìn thấy ở "chốn lao xao" (Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến).

Theo Lê Văn Tấn thì với riêng ba trường hợp Chu Văn An - Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nguyễn Thiếp, những nhân cách ưu tú, chói lọi của lịch sử trung đại thì hành vi ẩn dật của họ lại là  một sự ẩn dật đặc biệt - một sự ẩn dật cao đạo - một sự ẩn dật khiến triều đình phong kiến Trung ương vẫn phải nể trọng và thường xuyên tham vấn.

Và như thế, câu chuyện về những nhà nho ẩn dật với "điển hình Nguyễn Bỉnh Khiêm" gợi người hậu thế phải suy nghĩ nhiều về cách chọn lựa tâm thế tồn tại của người trí thức trong xã hội phong kiến. Lúc nào có thể chọn tâm thế động, để đặt hy vọng vào "chốn lao xao", lúc nào có thể chọn tâm thế tĩnh, để rút về "nơi vắng vẻ"? Lúc nào thì chọn lựa là dại? Lúc nào thì chọn lựa là khôn? 

Với câu thơ mang tính tổng kết cho cả một cuộc đời chính trị của Nguyễn Bỉnh Khiêm, những câu thơ như những suy nghiệm cuối cùng sau mọi thăng trầm của một trí thức lớn, đặt trong mối liên hệ với một thời đại không như mình mong đợi thì chúng ta hiểu rằng "về nơi vắng vẻ" tưởng "dại" mà "khôn", còn  ở lại "chốn lao xao" tưởng "khôn" mà "dại".

Ở đây, rõ ràng các cặp phạm trù vắng vẻ/lao xao, dại/khôn, tĩnh/động xuất hiện trong trạng thái tương phản, loại trừ nhau, trong tính tương đối tất yếu của nó. 

Câu hỏi đặt ra: Có bao giờ chúng không loại trừ nhau, mà nằm ở trong nhau, hoà quện vào nhau, chuyển hoá cho nhau? Tức là ở ngay chốn "lao xao" mà lòng vẫn tĩnh, và ở chốn "vắng vẻ" mà tâm vẫn "động"? Lịch sử thiền tông Trung Hoa kể lại câu chuyện Lục Tổ Huệ Năng một hôm đi tới một ngôi chùa, thấy hai vị tu hành đang tranh luận quanh câu hỏi: Vì sao lá cờ lại bay. Một vị thì bảo:

- Là vì có gió. Chính nhờ gió mà lá cờ bay.

Vị kia phản bác:

- Nhưng gió là cái quái gì, ta nào có nhìn thấy đâu. Ta chỉ có thể nhìn thấy lá cờ, vì vậy lá cờ bay là do tự nó chuyển động mà bay.

Hai vị tu sĩ tranh luận quyết liệt không phân biệt thắng thua thì Lục Tổ Huệ Năng đi tới và bảo:

- Chẳng phải do gió, cũng chẳng phải do bản thân lá cờ.

- Vậy thì tại sao lá cờ bay?

- À, vì tâm của hai vị đang bay. Chính tâm của hai vị đang bay nên hai vị mới thấy lá cờ bay.

Nghe Lục Tổ Huệ Năng giải thích, hai vị tu sĩ bừng tỉnh, và hiểu rằng căn cốt vấn đề nằm ở tâm. Nếu tâm mà động thì vạn vật dẫu đang tĩnh cũng giống như đang động. Nếu tâm mà tĩnh thì vạn vật đang động cũng như đang tĩnh. Vì thế vấn đề lớn nhất ở đây là phải "khai tâm", phải làm chủ cái tâm. 

Tinh thần phật giáo trong câu chuyện này lại mở cho chúng ta những suy ngẫm khác về động và tĩnh,  khôn và dại, vắng vẻ và lao xao. Hoá ra, nếu đã tập luyện đến trạng thái "tĩnh tâm" thì chẳng cần về nơi "vắng vẻ" lòng vẫn bình yên, vắng vẻ. Ngược lại tâm không yên thì ngay cả khi ở giữa nơi "vắng vẻ" cũng khó tránh khỏi... cảm giác lao xao.

Đời sống hiện đại với sự lên ngôi của "chủ nghĩa hỗn độn" không dễ dàng cho phép con người có những chọn lựa đơn tính, rõ ràng giữa cái này với cái kia. Đời sống hiện đại ràng buộc con người trong mối quan hệ giữa cái này với cái kia, và đấy thường xuyên là mối quan hệ không dễ gì thoát bỏ. 

Do vậy, con người hiện đại có xu thế đi tìm cái này ở trong cái kia, tận dụng tốt nhất ưu điểm của cái này, và khắc phục tốt nhất nhược điểm của cái kia. Chẳng hạn: cuộc sống ở thành phố nghiêng về động, cuộc sống thôn quê nghiêng về tĩnh. Nhưng con người hiện đại không thể dễ từ bỏ cái động trở về cái tĩnh bằng cách cắt đứt mối quan hệ của mình với thành phố. 

Một ví dụ khác: đời sống trên mạng xã hội là động, đời sống trong sâu thẳm lòng mình là tĩnh, nhưng con người hiện đại cũng không thể dễ dàng bỏ cái động, tìm về cái tĩnh bằng cách đoạn tuyệt mạng xã hội một cách cực đoan.

Cái tĩnh luôn cần thiết. Dẫu là thời đại của Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI hay thời đại 4.0 của con người hiện đại thì một trạng thái tĩnh tại luôn giúp con người thuận lợi hơn trong hành trình tìm ra bản chất một vấn đề và tiệm cận một chân lý. 

Nhưng khác thời của Nguyễn Bỉnh Khiêm, con người hiện đại không thể tìm kiếm sự tĩnh tại bằng cách khước từ tất cả những gì tương phản, trái chiều với nó. Người ta chỉ có thể tìm kiếm, tạo dựng trạng thái tĩnh ngay trong cái động, tìm kiếm sự "vắng vẻ" (bên trong) ngay giữa cái "lao xao" bên ngoài.

Không làm được như thế, con người hiện đại sẽ không giải quyết được những mâu thuẫn tâm lý của chính mình.

Phan Mỹ Chí

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?