Tà áo xanh làm nên mùa thu trong âm nhạc Đoàn Chuẩn

Mỗi mùa thu vương vấn lá vàng rơi trong gió heo may, công chúng lại xao xuyến hát thầm những ca khúc lãng mạn của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn (1924-2001). Trong rất nhiều ca khúc mùa thu, hình ảnh tà áo xanh luôn thắp lên nhiều mơ mộng cho âm nhạc Đoàn Chuẩn. Ca khúc "Tà áo xanh" dù không viết trực tiếp về mùa thu, nhưng lại tạo cảm hứng mùa thu man mác suốt hành trình sáng tạo của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn!

Nhạc sĩ Đoàn Chuẩn là một công tử đích thực. Là con trai của chủ nhân hãng nước mắm Vạn Vân nổi tiếng Hải Phòng, từ thuở trung học, Đoàn Chuẩn đã nổi tiếng hào hoa. Đoàn Chuẩn chơi đàn điệu nghệ, tự lái xe hơi đến trường và cưới cô bạn cùng lớp Nguyễn Thị Xuyên.

Thế nhưng, sau khi rời đất cảng lên Hà Nội và hạnh ngộ với tri kỷ Từ Linh (tên thật Hà Đình Thâu, sinh năm 1928, mất năm 1987) thì tài năng sáng tác của Đoàn Chuẩn mới phát lộ. Ca khúc đầu tay "Tình nghệ sĩ" ra đời năm 1947 đã cho thấy một kiểu đắm đuối riêng của Đoàn Chuẩn: "Đây khách ly hương mấy thu vàng ấm/ Nơi quán cô đơn mơ qua trùng sóng…/ Theo gió tha hương bay về miền xưa/ Nâng phím tơ lên mấy cung lả lơi…".

Cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn.
Cố nhạc sĩ Đoàn Chuẩn.

Ca khúc "Tình nghệ sĩ" nhanh chóng phổ cập vào đời sống. Và trái tim đa tình của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn tiếp tục đong đưa theo giai điệu trầm bổng. Những bóng hồng vụt qua thoáng chốc cũng làm thành cơn bão nhớ nhung, huống hồ người vợ xinh đẹp đang xa cách nơi chiến khu. Năm 1948, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn viết ca khúc "Đường về Việt Bắc" mà nhân vật trữ tình chính là bà Nguyễn Thị Xuyên: "Chiều nào áo tím nhiều quá/ Lòng thấy rộn ràng nhớ người/ Ðường về Việt Bắc xa cách mây/ Nhìn về đường lối muôn khó khăn/ Ðây núi cao, đây suối sâu/ Ðây lá xanh như ngàn xưa/ Ðường về ngập gió tha phương/ Tiếc đời gấm hoa ta đành quên màu sắc núi rừng/ Qua bao rừng núi anh về đây/ Nhớ nhau từng phút, yêu từng giây…".

Người áo tím Nguyễn Thị Xuyên thổ lộ: "Chồng tôi lãng mạn và đa tình lắm. Có vậy, ông mới viết bài hát hay như thế. Ông muốn ngang thì ngang, muốn dọc thì dọc, tôi chiều ông hết. Bổn phận của tôi là chăm sóc chồng, nuôi con, lúc nào cũng an phận chịu đựng. Ông không biết đến sinh kế gia đình, con cái… Đời ông phóng khoáng. Nghe nhạc ông, lúc nào tôi cũng ngạc nhiên: "Sao ông tài thế!". Mỗi bài hát là kỷ niệm một mối tình đi qua đời ông. Đôi khi tôi cũng buồn vì ông viết tình ca tặng cho người phụ nữ khác. Nhưng lấy chồng nghệ sĩ, số mình chịu vậy!".

Có một hiền thê đáng mơ ước, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn có được hậu phương cho sự nghiệp thăng hoa. Và đúng như lời bà Nguyễn Thị Xuyên, mỗi ca khúc của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đều có dính líu đến một mối tình nào đó. Bà Nguyễn Thị Xuyên xuất hiện một lần duy nhất trong ca khúc Đoàn Chuẩn với màu áo tím. Vậy tà áo xanh mà nhạc sĩ Đoàn Chuẩn thường mộng mị là ai?

Ca khúc "Tà áo xanh" được nhạc sĩ Đoàn Chuẩn sáng tác khoảng năm 1952: "Gió bay từ muôn phía, tới đây ngập hồn anh, rồi tình lên chơi vơi/ Thuyền anh một lá ra khơi, về em phong kín mây trời/ Đêm đêm ngồi chờ sáng, mơ ai/ Mộng nữa cũng là không/ Ta quen nhau mùa thu, ta thương nhau mùa đông, ta yêu nhau mùa xuân, để rồi tàn theo mùa xuân, người về lặng lẽ sao đành/ Anh còn nhớ em nói rằng/ Sao mùa xuân lá vẫn rơi? Sao mùa xuân lá vẫn bay? Em ơi, có hoa nào không tàn/ có trời nào không mây/ có tình nào không phai?".

Không viết về mùa thu trực tiếp như nhiều ca khúc khác của Đoàn Chuẩn, "Tà áo xanh" chỉ nhắc đến mùa thu như một sự nuối tiếc. Hay nói đúng hơn, đó là sự nuốc tiếc một mối tình đã ra đi giữa mùa thu.

Công chúng từng đoán già, đoán non về "Tà áo xanh". Thậm chí, những người cùng thời với nhạc sĩ Đoàn Chuẩn cũng úp mở nhiều chuyện riêng tư, nhưng "tà áo xanh" vẫn nằm trong vùng bí mật. Hơn 60 năm trôi qua, kể từ khi ca khúc "Tà áo xanh" bay lơ đãng vào lòng người nghe, thì mỹ nhân được viết tặng bài hát này công khai xác nhận.

Đó là danh ca Thanh Hằng nổi tiếng tại các phòng trà Hà Nội những năm đầu thập niên 50 của thế kỷ trước. Không chỉ được giải thưởng quốc tế, danh ca Thanh Hằng còn nức danh về nhan sắc. Được dịp gần gũi với một bóng hồng như danh ca Thanh Hằng thì người si mê như nhạc sĩ Đoàn Chuẩn không thể nào không liêu xiêu: "Rồi chiều nào băng giá, tâm hồn tìm đến nhau/ Em mơ trong tiếng hát/ Anh mơ trong nét bút đa tình sao/ Trách sao hoa xưa còn có lúc tàn/ Nhưng riêng anh dệt mấy cung đàn/ Nhạc đời còn ghi những nét thương yêu/ Hoa tàn tình tan theo không gian…".

Ca sĩ Thanh Hằng hồi tưởng: "Tôi với ông Đoàn Chuẩn chỉ là quen biết, xã giao chứ không yêu nhau. Tôi cũng biết ông ấy sáng tác ca khúc "Tà áo xanh" dành cho tôi vì tôi rất hay mặc áo xanh. Tôi nhớ lắm, tôi từng đến nhà ông ấy, ra ngoài ban công đứng và hỏi ông: "Ơ, sao mùa xuân mà lá vẫn rơi, thế là thế nào nhỉ?", đúng là tôi nói câu đó.

Bài hát ông viết về tôi, tôi rất cảm ơn nhưng mà bảo tôi hát thì tôi không hát. Người ta đã viết về mình, rồi mình lại ca ngợi mình thì không được, tôi không thích, tôi để cho người khác hát". Tuy nhiên, đúng như lời ca của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn, ca sĩ Thanh Hằng không dan díu với tác giả "Tà áo xanh", mà đã lặng lẽ theo chồng về nơi ấm êm. Vì vậy, có lúc tái bản ca khúc "Tà áo xanh", nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đổi tên thành "Dang dở" như một niềm tâm sự ngậm ngùi: "Em còn nhớ anh nói rằng, khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh/ Em ơi, có đâu ngờ đến rằng, có màu nào không phai, như màu xanh ái ân/ Rồi chiều nao xác pháo, bên thềm tản mác bay, em đi trong xác pháo, anh đi không ngước mắt, thôi đành em/ Lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn/ hoa mai rơi từng cánh trên đường/ lạnh lùng mà đi tiếc nhớ thêm chi/ hoa tàn nhạc bay theo không gian".

Lý do người viết "Tà áo xanh" không thể gắn bó lâu dài với "Tà áo xanh" rất đơn giản, như danh ca Thanh Hằng giải thích: "Tôi biết nhưng mà không thể tiến tới tình yêu được là vì ông ấy có vợ rồi. Bà Nguyễn Thị Xuyên có tới gặp tôi và hai người nói chuyện với nhau. Bà ấy bảo giữa em và chị có một người phải hi sinh. Tôi bảo thế thì tôi là người hi sinh. Ông ấy là người có vợ rồi thì tôi không thể yêu".

Mối tình ngắn ngủi ấy, nhạc sĩ Đoàn Chuẩn đành gửi vào âm nhạc: "Biết nhau để mà nhớ, nhớ nhau để sầu dâng. Tình trần ôi mong manh/ Người mơ một sớm đến anh, rồi đi đi mãi cho anh sầu/ Đêm đêm ngồi chờ sáng mơ ai…/ Anh còn nhớ em nói rằng, sao mùa xuân đến không vui, sao mùa xuân đến không tươi/ Em ơi, có trăng nào không tà, có diều nào không bay, có tình nào không say/ Em còn nhớ anh nói rằng, tâm hồn anh dễ chóng quên, tâm tình anh dễ chóng phai/ Em ơi, có đâu ngờ đến rằng, có tình nào không phai, như tình anh với em".

Nếu ngày xưa danh ca Thanh Hằng không cương quyết thì mọi chuyện sẽ ra sao nhỉ? Chắc cũng lắm chua chát và bẽ bàng. Vì không thể yêu "Tà áo xanh" đời thực mà nhạc sĩ Đoàn Chuẩn có "Tà áo xanh" trong mơ. Công chúng cảm ơn danh ca Thanh Hằng vì nhờ bà ghé qua một góc đời nhạc sĩ Đoàn Chuẩn mà nhiều thế hệ người yêu nhạc Việt Nam có được ca khúc "Tà áo xanh".

Hơn thế nữa, "tà áo xanh" mà danh ca Thanh Hằng để lại trong ký ức nhạc sĩ Đoàn Chuẩn còn chắp cánh cho nhiều bài hát khác của ông. Đặc biệt, tà áo xanh chính là cơn cớ để nhạc sĩ Đoàn Chuẩn có dịp "Gửi gió cho mây ngàn bay" đầy hoài niệm: "Với bao tà áo xanh đây mùa thu/ Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ/ Lá vàng từng cánh rơi từng cánh/ Rơi xuống âm thầm trên đất xưa/ Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi bướm muôn màu về hoa/ Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư/ Về đây với thu trần gian/ Thấy hối tiếc nhiều/ Thuyền đã sang bờ/ Đường về không lối/ Dòng đời trôi đã về chiều, mà lòng mến còn nhiều, đập gương xưa tìm bóng/ Nhưng thôi tiếc mà chi, chim rồi bay, anh rồi đi/ Đường trần quên lối cũ, người đời xa cách mãi/ Tình trần khôn hàn gắn thương lòng...".

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.