Sự sụp đổ của trật tự quốc tế truyền thống ở hạ lưu Mekong nửa sau thế kỷ XIX

Màn kịch này do chính De La Grandière báo cáo lên các quan chức cấp trên ở Paris. Chúng ta không biết liệu sứ thần Huế có thực sự nhún nhường xin lỗi người Pháp hay không, tuy nhiên, theo lời của quan chức Pháp thì khung cảnh này đã làm cho vua Norodom bị “shock” vì lần đầu tiên người Pháp cho thấy sự xác lập của “trật tự mới” ở vùng hạ lưu Mekong.

Sau cuộc chạm trán này, viên tư lệnh quân Pháp để lại cho vua Norodom một bản hiệp ước bảo hộ để nhà vua suy nghĩ, còn ông ta đi chơi Biển Hồ. Ngày 10-8, khi ông này quay lại, nhà vua Cambodia thông báo rằng Hiệp ước Bảo hộ Pháp - Cambodia sẽ được ký kết vào ngày hôm sau (11-8-1863). Vận mệnh của nước Cambodia hiện đại đã được định đoạt sau một cuộc gặp gỡ như thế. 

Chữ ký của Huế, Paris/Sài Gòn, Bangkok và Udong/Phom Penh trên các hiệp ước Pháp-Đại Nam (1862), Pháp-Cambodia (1863) và Pháp-Siam (1867) đã khép lại một kỷ nguyên của các quan hệ quốc tế và trật tự an ninh ở hạ lưu Mekong vốn được hình thành và vận hành hơn 3 thế kỷ với người Khmer ở giữa người Việt và Thái. Đây là câu chuyện về sự sụp đổ của trật tự quyền lực cũ và hình thành quan hệ quốc tế mới khi người Pháp bắt đầu công cuộc thực dân ở hạ lưu Mekong.

Vào giữa thế kỷ XIX, Bangkok và Huế rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan bởi cuộc chiến tranh kéo dài hàng thập kỷ ở Cambodia. Bản thân triều đình Cambodia thường xuyên trong tình trạng chia thành hai phe nhóm, dựa vào hai thế lực Việt-Siam để tranh đấu quyền lực. Năm 1834, Minh Mệnh quyết định biến vùng đất này thành Trấn Tây Thành như một nỗ lực giải quyết dứt điểm vấn đề an ninh này.

Tuy nhiên, khó khăn hậu cần, vận tải, duy trì binh lính, đặc biệt là các cuộc nổi dậy của người Khmer với sự giúp sức của người Thái đã làm cho tình thế của người Việt trở nên khó khăn. Giải pháp của tình trạng đó là sự nhượng bộ của Huế và Bangkok, biến vương quốc Khmer thành Muang song fai fai (mường [nước] có 2 tôn chủ).

Điều này giữ cho tình thế ở hạ lưu Mekong được yên bình. Ít nhất là trên phương diện lãnh thổ, dù không có một hiệp ước như phương Tây, sự dàn xếp này phản ánh một sự thỏa hiệp quốc tế thay cho giải pháp quân sự. Đó cũng có thể coi là hiệp định hòa bình đầu tiên trước khi người Pháp tới.

Đoàn thám hiểm Mekong của Pháp (1866-1868) tại Angkor.
Đoàn thám hiểm Mekong của Pháp (1866-1868) tại Angkor.

Tuy nhiên, ngày vui ngắn chẳng tày gang. Một thập kỷ sau, trật tự này đã nhanh chóng bị người Pháp tìm cách phá vỡ. Ngay khi chiếm được 3 tỉnh Nam Kỳ, năm 1861, đô đốc Charner cử phái đoàn của thiếu tá Lespès đi Cambodia.

Nhà vua Khmer sau đó phái một đoàn đáp lễ tới Sài Gòn, nơi ông ta tuyên bố về việc người Khmer đang có xung đột với Anam và sẽ dừng việc triều cống cho Huế. Quan hệ quốc tế truyền thống vùng hạ lưu Mekong bắt đầu sụp đổ khi người Pháp có được chữ ký của triều Nguyễn lên bản hòa ước năm 1862 mà qua đó họ có được 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn. Đó là bước đệm cho người Pháp đặt chân lên vùng Mekong.

Người Anh bắt đầu nhận ra tham vọng của Pháp và đẩy mạnh bành trướng ở Myanmar, gây thêm sức ép lên Siam và vùng trung lưu Mekong. Siam bắt đầu nhận ra thế khó bị kẹp hai bên Đông-Tây của mình và phản ứng để bảo vệ ảnh hưởng ở các chư hầu phía Đông, bao gồm Lào và Cambodia. Thực tế là hai vùng này đã và sẽ nằm trong tầm ngắm của người Pháp.

Từ năm 1855, người Pháp đã tới Siam và Cambodia để tìm kiếm cơ hội thương mại. Tuy không giành được một hiệp định nào, phái viên của họ Mongtiny (đại diện của Pháp ở Thượng Hải) nhận ra rằng các hàng hóa mà Siam có, ở Cambodia cũng tương tự nhưng với giá trị rẻ hơn và rõ ràng đã tìm thấy ở đây một tiềm năng thương mại lớn.

Như sẽ thấy dưới đây, tham vọng này sẽ trở lại vào năm 1859, mở rộng sang Cambodia năm 1863, lên trung lưu Mekong vào các năm 1866-1868 với phái đoàn thám hiểm của Doudart de Lagrée và cuối cùng là cuộc chiến ồn ào với Siam để giành lấy nước Lào vào những năm 1890.

Chiến thuật của người Pháp ở khu vực Mekong là gì? Họ tìm cách xác lập một trật tự quốc tế mới nhằm thay thế cho các thỏa thuận đang có giữa Siam-Udong-Huế. Trước tiên là tìm cách loại bỏ Đại Nam và Siam ra khỏi Cambodia. Cuộc đối đầu giữa Pháp và Siam diễn ra gây cấn trong việc tranh giành quyền tôn chủ, quyền bảo hộ và quyền lãnh thổ trên các vùng đất này.

Với Hiệp ước Pháp-Đại Nam 1862, Sài Gòn tuyên bố rằng họ sẽ kế thừa vai trò của Huế trong việc bảo hộ Cambodia. Người Pháp ép Siam chia sẻ quyền ảnh hưởng ở Cambodia. Họ sẽ lập lại đúng những gì Việt-Siam từng thực hành bằng việc can dự vào cuộc nội chiến ở vương quốc Khmer và đồng ý cho một thủ lĩnh nổi dậy là Sanongso cư trú tại đường biên giới với Nam Kỳ. Hành động này đáp trả việc Siam đưa quân vào Cambodia để dẹp loạn và lập Norodom làm “Phó vương của tỉnh Cambodia”.

Các hành động quân sự của Siam làm người Pháp lo lắng. Khi Sài Gòn đã được thiết lập, Pháp cần tiếp cận sông Mekong (để thực hiện giấc mơ đường sông tới Trung Hoa). Người Anh cũng đang đẩy mạnh bành trướng ở Đông Nam Á lục địa, và rõ ràng Paris không muốn thấy những kẻ cạnh tranh này chiếm mất các nguồn hàng và con đường sông chiến lược đó.

Đổi lại, Bangkok đã gia tăng đáng kể các hoạt động quân sự ở Cambodia, lo sợ rằng vùng đất này là mục tiêu tiếp theo của người Pháp. Điều này là có cơ sở bởi vì trước khi có các dự án nông nghiệp khổng lồ cuối thế kỷ XIX đến đầu XX nhằm biến Nam Bộ thành một không gian kinh tế độc lập thì Cambodia và Nam Kỳ tạo ra mạng lưới thương mại không thể tách rời.

Nỗi ám ảnh của người Pháp là Siam sẽ thâu tóm Cambodia và chuyển toàn bộ nguồn hàng hóa của nước này sang hướng Tây (thay vì đi xuôi theo Mekong về Sài Gòn). Viễn cảnh đó sẽ là một thảm họa đối với căn cứ thuộc địa đang được tạo dựng của Pháp.

Việc tấn phong của vua Norodom chính là một trong những màn kịch gay cấn nhất phản ánh các xung đột của nghi lễ, ngôn ngữ và biểu tượng ngoại giao mà phía sau đó là một trật tự quan hệ quốc tế đang thai nghén trên vùng hạ lưu Mekong.

Các quan chức giám sát của Siam đã đe dọa nhà vua Khmer rằng nếu ông không tham dự buổi lễ tấn phong tại Bangkok, ông sẽ đánh mất tự do của chính mình và lãnh thổ của Cambodia. Điều này đã có kết quả. Siam cũng không quên mời Tổng tư lệnh lực lượng Pháp tại Viễn Đông Pierre-Paul de La Grandière tới dự với tư cách của một vị khách và người chứng giám!

Sài Gòn đã không ngồi yên. Doudart de Lagrée, chỉ huy quân Pháp ở Sài Gòn được phái tới Udong và theo sát vua Norodom như hình với bóng. Ngày 3-3-1864, nhà vua khởi hành khỏi Udong và hướng sang Siam. Ngày 6-3, Lagrée kéo cờ Pháp ở Udong và cho bắn 21 phát đại bác, đồng thời cảnh báo nhà vua Norodom rằng nếu ông ta sang Bangkok nhận tấn phong thì sẽ không có cơ hội quay trở về. Các tàu chiến của Pháp sẽ chặn đường Campot. Ngày 10-3, nhà vua quay trở lại và Siam phải nhượng bộ bằng một lễ tấn phong bởi cả Siam và Pháp tại Udong.

Nhưng “kẻ cắp bà già gặp nhau”. Siam cũng không phải tay vừa. 4 tháng sau Hiệp ước bảo hộ Pháp-Cambodia, các quan chức Siam giám sát ở Udong đã ký một hiệp ước bí mật với nhà vua Norodom (được biết đến với tên gọi hiệp ước bí mật Siam-Cambodia). Người Pháp hoàn toàn không hề hay biết sự tồn tại của nó cho đến khi viên lãnh sự của họ tại Bangkok đọc được bản dịch tiếng Anh trên tờ Straits Times của Singapore 9 tháng sau đó. Theo hiệp ước này, Cambodia công nhận quyền tôn chủ của Siam. Nhà vua Siam có toàn quyền đối với việc lựa chọn người thừa kế ngai vàng Khmer và can dự vào nhiều vùng lãnh thổ khác.

Người Pháp đã bị choáng với nước cờ ngoại giao của người Thái nhưng những bộ óc thực dân lão luyện ở Paris và Sài Gòn đã không dừng bước. Chiêu bài mới của họ là thuyết phục Siam rằng Cambodia cần phải là một nước độc lập và trung lập (theo lập luận của Bộ trưởng Hải quân Chasseloup-Laubat). Khi vua Pháp Napoleon III gửi thư cho vua Siam Mongkut, ông vẫn coi Norodom là “nhà vua của Cambodia”.

Ông cũng muốn bảo đảm rằng lãnh thổ Siam và Lào thuộc Siam phải dừng lại ở bờ Tây của sông Mekong. Quyền lực của Siam ở Battambang và Angkor cũng phải bị hạn chế vì nếu Pháp công nhận sự hiện diện của người Thái ở đó thì 2 tỉnh khác là Pursat và Kampong Svai cũng chịu chung số phận.

Tuy nhiên, trong 3 năm sau đó, việc Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ (1867) đã làm thay đổi căn bản cán cân quyền lực lượng trên vùng hạ lưu Mekong. Sức ép từ phía người Anh buộc Siam và Pháp phải nhanh chóng xác lập trật tự mới ở Cambodia và Lào. Bangkok có vấn đề riêng của họ khi bản thân mình cũng có nguy cơ bị phương Tây xâm lược.

Hệ quả của nó là Hiệp ước Pháp-Siam vào năm 1867 để kết luận vấn đề Cambodia. Theo đó, hiệp ước bí mật Siam-Cambodia bị vô hiệu. Siam công nhận quyền bảo hộ của Pháp trên vương quốc Khmer, đổi lại, Siam chiếm 2 tỉnh là Siamreap và Battambang. Lịch sử thực dân đầy bạo lực của vùng hạ lưu Mekong đã bắt đầu như thế.

Cuối cùng, trong vòng chưa đến một thập kỷ khi người Pháp xâm lược Nam Kỳ, họ đã tìm cách xác lập những luật chơi mới lên vùng hạ lưu Mekong. Công cuộc thực dân này không chỉ đưa đến một hình thức áp bức mới (tư bản) mà còn xác lập các cách thức mới của sự vận hành quan hệ chính trị-quyền lực, ngoại giao... mà trật tự cũ được thiết lập bởi Huế, Bangkok, Phnom Penh/Udong bị loại bỏ. Hiểu về quá trình này sẽ là một trong những mắt xích giúp tháo gỡ nhiều định kiến, hiểu lầm và niềm tin dân tộc mù quáng có thể làm cho tình hình hạ lưu Mekong căng thẳng. 

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.