Sắc màu gà nổ đen giòn…

Trong tập “Hoa trái mùa”, in năm 1934 tại Sài Gòn của ông Trần Văn Tấn, ta còn được đọc dăm bài lục bát của cô giáo Huỳnh Ngọc Ái ở Bạc Liêu. Xét rằng, phải là người “trên đồng cạn, dưới đồng sâu”, biết quan sát, thích giăng câu chài lưới hoặc ít ra phải sống nơi vùng sông nước miền Nam mới có thể liệt kê đâu đó nhiều loại cá:

Dày tho, sặc bướm, chạch, trê

Bông, rô, dày, lóc thuộc về cá đen

Cá trắng: he, chốt, leo, kèn

Lòng tong, chẻm, sủ, thiểu, phèn, cháy, cơm…

Chỉ cần nghe đến tên các loài cá này, chưa cần nhìn thấy nhưng người ta cũng đã hình dung ra sắc màu của nó. Vốn sống là đây chứ đâu. Với màu đen, ta thử liệt kê xem người Việt đã sử dụng các từ gì? Sẽ không rỗi công vô ích, bởi qua đó, một lần nữa ta sẽ thấy cách dùng từ rất phong phú: Đen gần mực, đỏ gần son; đen như bồ hóng; đen như cột nhà cháy; đen như củ súng; đen như củ tam thất; đen như tro; đen như than; đen như hắc ín, đen như trôn chảo; đen như cuốc; đen như quạ; đen răng hơn chùng tóc, lắm thóc hơn to nhà v.v… hoặc đen thui, đen sì, đen trũi, đen nhẻm, đen nhánh… Truyện Kiều có câu:

Nàng thì cõi khách xa xăm

Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây

 “Đen rầm” là gì? Là chỉ rặt màu đen, nhằm làm nổi bật lên sự tương phản màu trắng, “bạc phau cầu giá” - trắng phau phau của cây cầu có tuyết phủ. Chỉ có hai màu đen trắng u ám và lạnh lẽo lúc Thúy Kiều rời khỏi nhà, sau khi bán mình chuộc cha, rõ ràng không báo hiệu điều gì tốt đẹp cả. Bản thân câu thơ “Nàng thì cõi khách xa xăm/ Bạc phau cầu giá, đen rầm ngàn mây” nào chỉ dùng chỉ tả cảnh mà có dụng ý phản ánh nỗi lòng.

Sắc màu gà nổ đen giòn… -0
Sắc màu con gà trong tranh dân gian.

Trong thơ Việt Nam xưa nay nhân vật nào có liên quan, dính líu tới màu đen mà “nổi tiếng” nhất? Tú Xương, ông thi sĩ trào phúng lừng danh nhất nước Nam đã “phán” ngay:

Ở phố Hàng Song thật lắm quan

Thành thì đen kịt, Đốc thì lang

Kịt/ đen kịt một cách chơi chữ oái oăm của Tú Xương, bởi “Kịt: Kín tới mức không còn chỗ hở nào” - theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999), tùy ngữ cảnh, ta hoàn toàn có thể thay thể bằng “nghịt”, thí dụ ai đó nhận xét: “Ngày hội hôm ấy, thiên hạ đi chơi đông nghịt/ đen kịn/ đen kịt” hoặc “đông nghìn nghịt”, không còn chỗ chen chân. Cái sự đen của màu da ông Thành là chỉ từ đen tới đen, đố ai tìm ra màu gì khác.

Đành rằng, câu thơ của ông Tú Xương đã hay, đã độc nhưng chỉ nhìn bề ngoài. Còn câu thơ miêu tả quan phủ lúc xử án: “Trông lên mặt sắt đen sì” của thi hào Nguyễn Du còn có cả nhận xét của tác giả. Nội lực phi thường ấy được dồn vào từ “sì”. Vì rằng, trong tiếng Việt hai từ “sì” và “xì” hàm nghĩa khác nhau, nhưng phát âm lại na ná, do đó, khi nói “đen sì”, ở mức độ cao hơn là “đen sì sì” nhằm chỉ sắc thái đen, xám xịt nhưng người ta hoàn toàn có quyền liên tưởng qua “xì” trong cụm từ đó.

Ở đây, khi liên tưởng đến “xì” là nhằm ngụ ý hiểu theo nghĩa thứ 2 trong “Tự điển tiếng Việt” (1988) do Hoàng Phê chủ biên: “Phì hơi mạnh qua kẽ răng, làm bật lên tiếng “xì” để tỏ thái độ không bằng lòng, hoặc coi thường, khinh bỉ”. Vậy nên cũng một câu thơ Kiều đã rõ ràng ngữ nghĩa ấy nhưng người tiếp nhận, cụ thể là người Việt mới có thể cảm nhận rõ nét mọi sắc thái tùy thái độ của mình dành cho quan phủ xử kiện. Tương tự, ở câu thơ “Thành thì đen kịt, Đốc thì lang”, dù hiểu lang là đốm trắng đen vá víu loang lỗ nhưng cũng có thể liên tưởng đến “lang” là lôi thôi, bậy bạ trong cách nói đã có sẵn như ăn lang, ngủ lang, đẻ lang… là chung chạ, chung đụng bừa bãi…

Về cái sự đen, ca dao Nam Bộ có câu: "Muốn làm kiểng lấy gái Sài Gòn/ Muốn ăn mắm cái, lấy gái đen giòn Bạc Liêu". Đen giòn là da ngăm đen mà có duyên, trông khỏe mạnh. Bởi vậy, anh chàng nọ mới thổ lộ tâm tình: "Ai trắng như bông, lòng tôi không chuộng /Ai đó đen giòn làm ruộng tôi thương/ Biết rằng dạ có vấn vương/ Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi". Đen giòn là đen thế nào? Trước hết, ta cần tìm hiểu từ “giòn”.

Ca dao, tục ngữ Việt Nam cũng có câu: "Ở nhà nhất mẹ, nhì con/ Ra đường lắm kẻ còn giòn hơn ta". Ca dao kháng chiến: "Chị em du kích Thái Bình/ Ca lô đội lệch vừa xinh vừa giòn/ Người ta nhắc chuyện chồng con/ Lắc đầu nguây nguẩy: "Em còn giết Tây". Một khi không còn xinh xắn, tươi tắn nữa, tức là đã hết giòn. Cũng chẳng việc gì phải lo: "Cau già dao sắc lại non/ Nạ dòng trang điểm lại giòn như xưa". Ngày xưa, ông cha ta khi trao duyên, tán tỉnh đã có cách nói cực kỳ ẩn dụ, bay bướm mà không kém phần suồng sã: "Người xinh cái bóng cũng xinh/ Người giòn cái tỉnh tình tinh cũng giòn".

Vậy "cái tỉnh tình tinh cũng giòn" là thế nào? Xin… tự hiểu lấy vậy.

Tóm lại, từ “Từ điển Việt – Pháp” của J.F.M Génibrel (1898) đến nay, hầu hết đều giải thích người giòn là người đẹp. Với cách hiểu từ giòn như vậy, có câu nghi vấn được đặt ra: Tại sao tục ngữ lại bảo "Nhiều con giòn mẹ"? Xét ra cực kỳ vô lý, vì ai cũng biết một khi người phụ nữ sinh nở nhiều ắt hao mòn sức khỏe, thậm chí "Người chửa cửa mả" nữa đấy chứ. Thế thì giòn là giòn cái nỗi gì?

Trong ngữ cảnh của câu tục ngữ trên, "giòn" phải được hiểu như thế nào? Ngoài 3 nghĩa mà “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) cũng như nhiều từ điển khác đã giải thích: 1. Dễ gãy, vỡ vụn, thường kèm theo âm thanh khi gãy, vỡ; 2. Có âm thanh đanh gọn, nghe vui tai; 3. Người phụ nữ có vẻ khỏe mạnh thì “Từ điển tiếng Huế” của Bùi Minh Đức còn ghi nhận thêm một nghĩa nữa: "Khỏi. Ham chơi thì giòn ăn. Ăn cơm thì giòn ăn bắp". Từ cách nói của vùng miền địa phương, ta hoàn toàn có thể hiểu đúng câu "Đông con giòn mẹ". Nếu sinh đẻ nhiều con có thể ảnh hưởng đến tính mạng của người mẹ, nói như thế bởi ngày xưa có quan niệm “người chửa cửa mả”, họ phải vượt cạn “Đàn ông đi biển có đôi/ Đàn bà đi biển mồ côi một mình”- ngụ ý mỗi lần “khai hoa nở nhụy” thường dễ gặp bất trắc, sức khỏe hao mòn vì thế mới có lời cảnh báo “Nhiều con giòn mẹ”. Không những thế, còn có lời khuyên: “Bớt một con giòn một đọi”, giòn ở đây lại là trẻ đẹp, khỏe mạnh nói nôm na muốn như vậy thì chớ ham hố sinh nở nhiều làm chi.

Trở lại với cô giáo Huỳnh Ngọc Ái, không chỉ kể các loại cá đen, cô còn kể ra vài con thú rằn/ vằn, không thuần màu:

Nai bông, chó vện, mèo vằn

Heo vá, vịt sém, gà rằn, gà sao

Vồ đém, chồn mướp, bông lau

Kè gấm, cóc tía kêu gào đêm mưa

Cho thấy sắc màu lẫn lộn, ta còn có thể kể thêm từ khác nữa, chẳng hạn, hò Huế có câu:

Phụ mẫu em nghèo chẳng dám đòi chi

Đòi nếp hương đôi thúng, đậu phụng hai ang

Khoai lang đôi rổ, vịt nổ đôi con

Rượu ngon đôi bát, trầm hương bát ngát, đường cát đậu xanh

Gạo lương mành đừng cho lộn vỏ

Anh lui về thưa thầy với mẹ có lòng thương không?

Để em kết nghĩa tam tòng cùng anh

Các thứ liệt kê này, ta thấy có “vịt nổ”, ắt con gà nếu sắc lông nhiều màu như đỏ, đen xen trắng thì cách gọi cũng chẳng khác gì:

Gà không rang răng kêu gà nổ

Chó không nướng răng gọi chó vàng

Nam nhân đối đặng xin nàng trao duyên

Rõ ràng các sắc màu được gọi linh hoạt, theo quy ước đã được cộng đồng thừa nhận, chứ không phải lúc nào cũng gọn lỏn mỗi một từ đen, trắng hoặc vằn. Ấy mới là sự lắt léo của tiếng Việt. Trong lời ăn tiếng nói là thế, nhưng rồi, khi sử dụng các sắc màu ấy cho vật dụng sinh hoạt hằng ngày, lại có những quy định riêng mà người ta phải chấp nhận. Với màu đỏ, năm 1939 nhà thơ Lưu Trọng Lư miêu tả:

Tôi nhớ mẹ tôi, thuở thiếu thời

Lúc người còn sống, tôi lên mười;

Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội,

Áo đỏ người đưa trước giậu phơi.

Sắc đỏ ấy, không những chỉ màu sắc cụ thể, qua đó, còn phản ảnh một sự thay đổi ghê gớm của thời đại. Nói như thế, thiết tưởng cũng là lúc ta cần biết sắc màu đã được phân biệt “đẳng cấp” cao thấp ra sao trong đời sống tinh thần một thời của người Việt.

Hồi ký “Khúc tiêu đồng” (NXB Trẻ-2014) của ông Hà Ngại - một quan chức của triều Nguyễn đã trải quan các chức vụ như tri phủ Thanh Hóa, án sát Hà Tĩnh, bố chánh Nghệ An… cho biết thời kỳ đó: “Sắc đỏ dành riêng cho nhà quan và những đồ vật công cộng như cờ đỏ của làng v.v… Cho nên lính hầu đường quan tam phẩm trở lên mới được mặc áo đỏ. Còn lính hầu thuộc quan như phủ huyện chẳng hạn, thì mặc áo kẹp nẹp, nghĩa là ngoài biên viền sắc đỏ, còn toàn thân áo là sắc xanh. Và đường quan cùng vợ ông ấy mới được đi võng điều, còn dân gian thì thì cấm tuyệt” (tr.68).

Trong khi đó, mẹ của nhà thơ Lưu Trọng Lư chỉ là người nông dân nghèo, chân lấm tay bùn nhưng bấy giờ cũng đã “Áo đỏ người đưa trước giậu phơi”, qua màu đỏ ấy, câu thơ còn phản ánh thời thế lúc bấy giờ đã khác trước. 

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?