NSND Tường Vi: Người nghệ sĩ duy nhất có tên trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam

NSND Tường Vi đã vĩnh viễn về trời, khép lại một giọng ca huyền thoại với những ca khúc cách mạng bất hủ: "Cô gái vót chông", "Tiếng đàn Ta Lư", "Em là hoa Pơ Lang".  Bà hưởng thọ 86 tuổi. Bà là người nghệ sĩ duy nhất được vinh dự có tên trong "Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam".

Những kỷ niệm đẹp

Tôi không bao giờ quên được cuộc gặp gỡ với NSND Tường Vi lần đầu tiên vào quãng năm 2006, lần ấy tôi đến nhà riêng của bà, ngôi nhà nhỏ xinh ở số nhà 24, B3 phố Mai Dịch, Hà Nội để viết chân dung nhân vật cho báo An ninh thế giới Cuối tháng. NSND Tường Vi tiếp tôi bên cây đàn piano. Bà tự hào kể cho tôi nghe về tổ ấm nhỏ xinh của mình, nơi mặc dù bà đã nghỉ hưu nhưng tình yêu, niềm đam mê và sự cống hiến cho nghệ thuật vẫn luôn chảy dào dạt trong huyết quản của bà.

Về hưu nhưng bà chưa từng phút nào rời âm nhạc. Nơi đây, bà đã vun vén trao truyền, dạy dỗ cho nhiều thế hệ ca sĩ, bồi dưỡng tài năng cho nhiều nghệ sĩ thành danh sau này như: Thanh Lam, Khánh Thi, Giáng Son, Thái Thùy Linh, Hoài Phương, Hà Chương… và bà vô cùng tự hào chia sẻ về những mái ấm âm nhạc tình thương mà bà dày công xây dựng để ươm mầm những tài năng âm nhạc trong những em bé thiếu nhi có số phận thiệt thòi bất hạnh.

Bà bắt đầu công việc này từ năm 1992, khi gặp một số trẻ em mồ côi, phát hiện các mầm non âm nhạc ở các trung tâm bảo trợ, trại trẻ mồ côi. Bà đã âm thầm dạy hát miễn phí cho các em với mong mỏi âm nhạc sẽ giúp các em chữa lành những nỗi đau, phát triển tài năng, và mở ra những con đường ước vọng để các em có thể tự tin bước tiếp với ước mơ.

NSND Tường Vi: Người nghệ sĩ duy nhất có tên trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam -1
Ca sĩ Tường Vi bên Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Những việc làm xuất phát từ tình thương sâu đậm của bà với trẻ nhỏ mồ côi đã cảm động tới cộng đồng. Bà được nhiều người ủng hộ giúp đỡ và quyên góp tài lực để lập Trung tâm Nghệ thuật tình thương. Trung tâm trực thuộc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, với mục đích nuôi dưỡng và đào tạo nghệ thuật cho trẻ em bị khuyết tật, mồ côi.

Thời điểm tôi trò chuyện với bà, bà khoe hiện nay trung tâm có 3 cơ sở tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, do bà làm giám đốc. Những trẻ em tại trung tâm đã được đi biểu diễn nhiều nơi, nhiều em thi đỗ vào các trường nghệ thuật trong cả nước. Một học viên khiếm thị tại đây đã đỗ thủ khoa Khoa đàn bầu Nhạc viện Hà Nội. Trung tâm Nghệ thuật tình thương của bà cũng là nơi vinh dự đón những chuyến thăm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi ông còn sống.

Thời điểm đó, tôi cũng từng gặp ca sĩ Ngọc Anh trong ngôi nhà của bà cho cuộc phỏng vấn cho báo An ninh thế giới. Ngọc Anh lúc này đang hạnh phúc trong cuộc hôn nhân với nhạc sĩ Trần Hùng, con trai duy nhất của NSND Tường Vi với nhạc sĩ Trần Chương. Trong nếp nhà nghệ thuật ấy, tình yêu đối với âm nhạc được tôn vinh giữa những thế hệ.

Từ bấy đến nay, trải qua nhiều những biến động của thời gian. Một lần tôi đến nhà Tường Vi phỏng vấn bà cho bài báo nhân dịp  kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam. Ngôi nhà của bà dường như vắng vẻ nhiều hơn. Bà kể con trai, và cháu nội duy nhất của bà sang Mỹ cùng vợ là ca sĩ Ngọc Anh. Cả gia đình định cư bên đó. Đôi mắt bà  ánh nỗi buồn, nhưng xen lẫn niềm tự hào. Bà nói: Ở nước ngoài, chắc chắn cuộc sống của bọn trẻ sẽ tốt hơn. Bà vẫn một mình đi đi về về giữa quê hương Quảng Ngãi của bà và Hà Nội, nơi bà tiếp tục mở thêm những lớp học âm nhạc tình thương dành cho những trẻ em khuyết tật.

Âm nhạc chữa lành

Phải nói rằng, NSND Tường Vi là người tiên phong mang âm nhạc để chữa lành ngay từ những ngày đầu chiến tranh ác liệt. Số phận bà gắn với âm nhạc chiến tranh cách mạng, gắn với những cống hiến đặc biệt. Nghệ sĩ có giọng hát huyền thoại lại sinh ra trong một gia đình không có ai làm nghệ thuật. Giọng hát của bà hoàn toàn là thiên bẩm. Năm bà 16 tuổi, chứng kiến bà ngoại bị mất do trúng bom của thực dân Pháp, bà đã nuôi lòng căm hờn giặc và đó là lí do năm 1954, bà xung phong vào bộ đội.

NSND Tường Vi kể lại: "Ngày ấy, tôi gầy và nhỏ. Khi nhìn thấy tôi, đồng chí bộ đội tuyển quân hỏi: "Em nhỏ thế này mà đi bộ đội à?, gầy yếu thế này làm được gì?". Lúc đó, tôi trả lời tức thì: "Em hát được, đi bộ đội em hát cho bộ đội nghe". Nghe tôi nói vậy, đồng chí yêu cầu tôi hát một bài. Đồng chí tuyển quân gật đầu và nói "Em đi bộ đội được". Vào quân ngũ tôi được học làm y tá ở quân khu V. Trong quá trình chăm sóc bệnh nhân, chứng kiến những người lính bị thương nặng, thuốc men thiếu thốn, những cơn đau quằn quại do vết thương nặng đã khiến cho họ đau đớn đến kiệt sức. Thương các anh, tôi đã cất giọng hát để động viên. Mỗi khi có bệnh nhân nào đau quá, rên rỉ thì tôi động viên bằng cách: "Để em hát anh nghe nhé, cho đỡ buồn". Những lúc đó bệnh nhân không còn kêu la đau đớn nữa mà im lặng nghe tôi hát".

Sau năm 1954, NSND Tường Vi cùng đồng đội tập kết ra miền Bắc, bà làm y tá tại Bệnh viện Quân y 108. Để bệnh nhân bớt nỗi đau, bà tiếp tục mang lời ca tiếng hát phục vụ họ. Chính vì thế, bà được coi là một trong những thế hệ nghệ sĩ đầu tiên hát cho bệnh binh nghe. Tiếng hát của bà là thần dược chữa lành những cơn đau, góp phần giúp các chiến sĩ quên đi những vết thương đang rỉ máu, giúp họ vượt qua những cơn sốt cao, vượt qua những phút giây sinh tử hiểm nghèo.

NSND Tường Vi: Người nghệ sĩ duy nhất có tên trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam -0
Ca sĩ Ngọc Anh cùng chồng mới thăm mẹ chồng cũ Tường Vi.

Trong những lần hát cho bệnh nhân, có một nam bệnh nhân đặc biệt chú ý đến bà. Mãi sau này, bà mới biết người bệnh nhân ấy là Đại tá của Tổng cục Chính trị. Sau khi ra viện, vì yêu quý giọng hát của bà, ông đã trở lại Bệnh viện Quân y 108 tuyển bà về hát tại Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị. Tường Vi đã đồng ý, tạm biệt quân y về với lĩnh vực mới. Kể từ đó, NSND Tường Vi chính thức bước vào con đường nghệ thuật chuyên nghiệp. Hai năm sau, bà được đào tạo thanh nhạc bài bản, thi đỗ Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam và được học với các chuyên gia thanh nhạc nhiều nước.

Trong rất nhiều câu chuyện cảm động về những năm tháng mang tiếng hát ra chiến trường đánh giặc của NSND Tường Vi, bà luôn mang giữ trong kí ức một kỷ niệm. Đó là năm 1968, Đoàn ca múa Tổng cục Chính trị từ Quảng Bình trở ra thì gặp một tiểu đoàn đặc công đặc biệt tinh nhuệ đi vào. Hai đoàn gặp nhau tại bến phà Long Đại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Khi ấy các chiến sĩ đặc công hô to: "A, Tổng cục Chính trị đây rồi! Có Tường Vi không?" - bên này đáp: "Có". Thế là họ kéo tôi đứng lên mui xe rồi cùng hòa nhịp "Tiếng đàn Ta-lư" rộn vang cả một vùng. Khi tôi hát đến đoạn cuối cùng, các chiến sĩ cũng "hú" theo. Thời điểm ấy, khi đi các chiến trường cứ gặp chiến sĩ là hát, sân khấu ngay giữa rừng, dù không có micro nhưng tôi vẫn say sưa, vút cao tiếng hát để chia sẻ gian khó với các chiến sĩ", NSND Tường Vi chia sẻ.

Giờ đây tiếng hát huyền thoại ấy đã yên nghỉ ở tuổi 86. Ca sĩ Ngọc Anh và con trai cũng đang gấp rút bay từ Mỹ về viếng mẹ chồng cũ trong nỗi tiếc thương vô hạn. Dẫu ca sĩ Ngọc Anh không còn là con dâu bà nữa thì những gì chị đối xử với mẹ chồng cũ vẫn ấm áp yêu thương. Đó cũng là niềm an ủi lớn cho NSND Tường Vi.

NSND Tường Vi (sinh ngày 19/8/1938, tại Tam Kỳ, Quảng Nam) là nữ ca sĩ Việt Nam nổi tiếng với những ca khúc cách mạng như: "Cô gái vót chông", "Tiếng đàn Ta Lư", "Bóng cây Kơ-nia", "Người lái đò trên sông Pô Cô", "Tháng Ba Tây Nguyên", "Suối Lê Nin", "Hoa Pơ Lang"…

Bà sáng tác hơn 50 ca khúc và là một trong những nghệ sĩ hiếm hoi được ghi tên trong Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam (xuất bản 1996). Bà được phong tặng danh hiệu NSND năm 1993. Trong những năm chiến tranh, bà đã theo đoàn văn công đi biểu diễn nhiều nơi trên các chiến trường. Tường Vi còn đi biểu diễn ở nhiều nước như Liên Xô, Ba Lan, Chile, Cuba, Lào,... Bà cũng là một trong số ít ca sĩ được nhiều lần biểu diễn trước Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Bà còn đoạt nhiều giải thưởng như Huy chương Vàng tại Liên hoan giọng hát hay toàn quốc (1962). Huy chương Vàng tại Liên hoan ca nhạc quốc tế Sofia (1968), Liên hoan nhạc quốc tế Berlin (1969). Giải Nhì toàn quốc bài "Phi đội ta xuất kích", giải Ba toàn quốc bài "Quê hương anh là biển cả". Bà được Nhà nước khen thưởng Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương Lao động hạng Ba, Huân chương Chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến hạng Nhất...

3 trung tâm nghệ thuật tình thương do bà sáng lập đã góp phần phục hồi tâm hồn cho nhiều trẻ em thiệt thòi, phát hiện, nâng đỡ và giúp các em khẳng định tài năng nghệ thuật của mình.

Mộc Thảo

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.