Những câu thơ lục bát “thần đồng” của Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa nổi tiếng với những bài thơ viết cho trẻ con như “Hạt gạo làng ta”; “Đám ma bác giun”, “Tiếng võng kêu”; “Mưa”... Nhiều bài đã được đưa vào sách giáo khoa...

Cái còn thì vẫn còn nguyên
Cái tan thì tưởng vững bền cũng tan!

Tôi đã thuộc lòng hai câu thơ lục bát này trong trường ca “Khúc hát người anh hùng” của Trần Đăng Khoa. Và mỗi khi có sự kiện, sự việc nào đó trong nước hay trên thế giới tưởng VỮNG BỀN mà lại TAN, tự nhiên tôi lại nhớ đến hai câu thơ đầy tính minh triết này. Một cậu bé học lớp chín trường làng viết được những câu thơ như thế, nếu không phải “thần đồng” thì là gì?

Gần đây có người chê bai, dè bửu thơ lục bát, cho là đã quá thời, quá “đát”, riêng tôi thiển nghĩ tự thân thơ lục bát hay bất cứ thể thơ nào mà ông cha mình đã sáng tạo ra, đã để lại cho hậu thế đều không lỗi thời, nếu có lỗi thời là ở cách cảm, cách nghĩ thiếu sáng tạo của người làm thơ mà thôi.

Trần Đăng Khoa nổi tiếng với những bài thơ viết cho trẻ con như “Hạt gạo làng ta”; “Đám ma bác giun”, “Tiếng võng kêu”; “Mưa”... Nhiều bài đã được đưa vào sách giáo khoa.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa.

Ngày thơ Việt Nam vừa rồi, cháu nội tôi Dương Xuân Hiếu đang học lớp bốn cứ đòi đi với ông, dù trời mưa, ướt át, lại còn nói muốn gặp nhà thơ Trần Đăng Khoa nữa. Tôi hỏi vì sao cháu muốn gặp, cháu bảo vì đã đọc thơ chú Trần Đăng Khoa trong sách tiếng Việt.

Nhưng, trong bài viết này tôi chỉ muốn đề cập đến thơ lục bát đã in trong “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa” (Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành).

Bây giờ có người làm thơ về quê hương với nhiều câu, từ nghe to tát, ồn ào, tôi lại nhớ tới những câu thơ lục bát của Trần Đăng Khoa viết về quê hương thật giản dị mà sâu xa, thấm vào hồn người:

...Mái gianh ơi hỡi mái gianh
Ngấm bao mưa nắng mà thành quê hương...

(Trích “Khúc hát người anh hùng”).

Quê hương là vậy, là mái nhà tranh, là người mẹ hiền tần tảo sớm hôm...

...Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ, bây giờ chưa tan
Khắp người đau buốt, nóng ran...
...Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào đưa hương
Cả đời đi gió, đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi ...

(Mẹ ốm)

...Lá vàng còn ở trên cây
Nghe câu hát cũ dâng đầy hồn ta
Mẹ ơi xin mẹ đừng già
Những ngày cơ cực đã qua lâu rồi ...

(Trường ca “Khúc hát người anh hùng”).

Nhiều hôm ở nhà vườn, nửa đêm thức dậy, thấy lành lạnh, nhìn ánh trăng thu qua cửa sổ, tự nhiên trong tôi bỗng ngân lên:

Thu về lành lạnh trời mây
Bỗng nhiên tỉnh giấc, nào hay mấy giờ
Ánh trăng vừa thực, vừa hư
Vườn sau gió thổi, nghe như mưa rào

(Đêm thu)

Hay những đêm chớm thu:

...Nghe trời trở gió heo may
Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau

(Chớm thu)

...Hoa rơi trắng mảnh sân con
Ôi hoa đã rụng vẫn còn ngát hương 

(Hương bưởi)

Có thể vì tôi yêu thiên nhiên, nhiều năm nay gắn bó với thiên nhiên hoa lá bốn mùa nên yêu những câu thơ như thế chăng?!

Ngay cả bài thơ “Đồng chiều” in trong “Tuyển thơ Trần Đăng Khoa”, trước đây tôi chỉ đọc qua, nay đọc lại tôi mới cảm nhận hết cái dư âm của nó:

Mặt trời chìm cuối đồng xa
Sương lên mờ mịt như là khói bay
Đất trời cách một gang mây
Và tôi cùng với luống cày tỏa hương ...

Dưới bài thơ đề 1972, như vậy cậu bé Khoa năm ấy mới học lớp tám,  rõ là “thần hứng”, điều mà chúng ta vẫn thường nói. Không có “thần hứng”; “thi hứng” làm sao có được những câu thơ nhiều dư ba như vậy ở một cậu bé. Ý tôi muốn nói, bây giờ hình như không ít người không có hứng vẫn làm thơ, đọc thơ chỉ thấy con chữ mà không có hồn chữ ...Tình trạng thơ nhạt, thơ giả mà không ít người lắc đầu lẽ nào không làm cho chúng ta suy nghĩ...

Trước sau tôi vẫn nghĩ rằng, người làm thơ trước hết phải có TÀI THƠ, nói giản dị là có năng khiếu về sáng tác thơ, chứ không phải ai cũng làm thơ được. Tất nhiên, ở xứ ta, nói như nhiều người vẫn thường nói vui “nhà nhà làm thơ, người người làm thơ”. Làm ra những câu có vần vè đọc cho bạn bè nghe, hay để tự mình thổ lộ tâm tư tất nhiên ai cũng có quyền. Nhưng, nhất nhất cứ gọi là thơ nghe làm sao ấy!

Tôi thường xuyên đọc thơ trên facebook, trên báo, trong sách để tìm những câu thơ hay theo ý mình, để khi tái bản cuốn “Những câu thơ hay Đông - Tây - Kim - Cổ” (Nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành năm 2013) sẽ bổ sung. Có người làm rất nhiều nhưng nói thực ...chưa thể gọi là thơ. Cũng chẳng sao. Nhưng, nếu những câu, những bài như thế được đăng lên báo, nhất là những tờ báo chính thống của làng văn thì quả thật không nên. Như vậy làm cho người yêu thơ NẢN, vì thật giả lẫn lộn, dần dần người ta xa lánh thơ, đó là điều đáng nói hơn cả, đáng lo hơn cả.

Hầu hết những câu thơ lục bát trên của Trần Đăng Khoa tôi thuộc lòng nhiều năm nay. Bởi vậy, tôi thiển nghĩ rằng thơ hay trước hết phải cuốn hút người đọc, người ta đọc thuộc lòng, như tôi, để mỗi khi có tâm trạng hợp cảnh, hợp tình, hợp người thì những câu thơ hay của người khác thực ra là nói hộ lòng mình ...

Có lần đi qua châu Âu bằng tàu hỏa, qua những cánh đồng hoa hướng dương vàng rực, đột nhiên tôi ngân lên: “Trời ơi vàng đến thế này/ Mà sao đen bạc vẫn đầy thế gian” (Trần Nhuận Minh).

Tôi nhiều tuổi hơn Trần Đăng Khoa nhưng có chút thân tình. Ấy là thời trẻ con, còn học trường làng, tôi cũng có thơ đăng trên báo Trung ương và in chung trong tập thơ “Bông hồng đỏ” (Nhà xuất bản Kim Đồng) cùng Trần Đăng Khoa, Cẩm Thơ, Chu Hồng Quý, Đoàn Thị Lam Luyến. Có lần phát biểu trên Đài Truyền hình Hà Nội, Trần Đăng Khoa nói: “Thời ấy người ta gọi chúng tôi là dàn thần đồng”. Gặp Trần Đăng Khoa, tôi bảo: Chỉ có Khoa là “thần đồng” thôi.

Anh ruột Trần Đăng Khoa, nhà thơ Trần Nhuận Minh nhiều năm làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Ninh và đại diện cho Báo Tiền Phong ở Quảng Ninh hồi tôi còn làm Tổng biên tập. Phải nói là Trần Nhuận Minh biết cách tổ chức, tập hợp được nhiều cộng tác viên cho tờ báo, có nhiều bài viết tốt, góp phần làm tăng uy tín của Báo Tiền Phong thời đó.

Một chút thân tình của tôi với anh em nhà thơ Trần Đăng Khoa nên tôi gần như thường xuyên đọc các bài viết, nhất là thơ của Trần Nhuận Minh và Trần Đăng Khoa đăng trên báo và trong các tập thơ.

Trong bài này, qua những câu thơ lục bát của một cậu bé được gọi là “thần đồng” thơ mà tôi quen biết, tôi muốn soi chiếu một chút về thơ hiện nay, với nhiều quan niệm, nhiều ý kiến, nhiều tranh cãi vẫn còn chưa sáng tỏ...

(Viết tại nhà vườn Sóc Sơn, 2019)

Dương Kỳ Anh

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.