Một ngày tháng bảy, cơn bão số 1 sắp vào Bắc Bộ, mưa dần nặng hạt. Lúc đi trên con đường Gia Lạc vào chợ Nam Phổ, tôi chợt nhớ gia đình nhà văn Thanh Tịnh ở đây. Cuối đường có một cây si đại thụ sum suê, tỏa bóng che một cái thạch bàn trên đặt những bát nhang lớn. Tôi đã theo nhà sử học Trần Đại Vinh đến đây dâng hương, ông bảo "Đây là cột mốc xóm Gia Lạc làng Dương Nỗ". Nhớ Thanh Tịnh, hai câu thơ của ông lại chợt hiện về "Dòng dòng kỷ niệm tuôn xuôi ngược/ Lẫn lộn vui buồn dệt ngổn ngang"
Đường xưa chốn cũ
Sau năm 1976 do nhu cầu đô thị hóa, nghĩa địa được di dời, đây thành khu định cư trù phú của huyện Phú Vang và thành phố Huế. Trên đường vào khu dân cư này là bến đò chợ Dinh, hàng ngày tấp nập thương thuyền từ Bao Vinh chở hàng hóa lên chợ Đông Ba, chợ Dinh, chợ Cồn. "Chợ Dinh bán áo con trai/ Triều Sơn bán nón/ Mậu Tài bán kim". Cách bến đò vài trăm bước, uy nghi phủ đệ của hoàng tử Nguyễn Phúc Bính, con trai thứ sáu vua Minh Mạng được phong tước Định Viễn Quận Vương. Ông là thương gia giàu có bậc nhất kinh đô Huế, đã thành lập chợ Gia Lạc, cho dân mua bán, vui chơi trong ba ngày tết. Giờ con đường từ bến đò đến nơi họp chợ, được đặt tên đường "Gia Lạc", nối vào đường "Nguyễn Sinh Cung" về đến làng Dương Nỗ, nơi Bác Hồ đã sống thời niên thiếu cùng với thân phụ và anh trai nay là phường Dương Nỗ, TP Huế.
Gia đình nhà văn Thanh Tịnh chánh quán ở Gio Linh, Quảng Trị, chuyển vào Huế định cư rồi sinh ra ông tại xóm Gia Lạc, thôn Tây Thượng làng Dương Nỗ. Thân phụ nhà văn là một nghệ nhân mộc mỹ nghệ giỏi, biết chữ Hán, ban đầu đặt tên con là Ninh sau đổi thành Thanh Tịnh. Sau năm 1975, lần đầu Thanh Tịnh trở lại Huế, ông nhớ "Nhà tôi ở bên phủ Định Viễn, gần bến đò chợ Dinh. Chợ Dinh là quê tôi, qua Đập Đá về Vỹ Dạ, rồi về một đoạn ngắn nữa, làng Dương Nỗ đó. Nhà tôi ở cạnh nhà của ba vị danh gia vọng tộc là Hồ Đắc, Nguyễn Khoa và Định Viễn".
Thanh Tịnh là con trai "độc đinh" được mẹ nuông chiều, thường dẫn ra ăn quà ở hàng tạp hóa của bà ở bến đò chợ Dinh, cách nhà vài trăm bước (nay là đường dẫn lên cầu Chợ Dinh, xây dựng năm 2000 -2003). Bến đò chợ Dinh ngày ấy tấp nập thương khách, có kho hàng lớn của Định Viễn Quận Vương. Thanh Tịnh kể "Khách vào uống nước chè, hút thuốc, ăn quà. Tôi còn bé, ngồi say mê hóng chuyện. Ngày qua ngày, cái khiếu kể chuyện phát triển khi nào không biết. Một số truyện ngắn của tôi "Quê mẹ", "Chị và em", "Bên con đường sắt", "Tình thư", "Am culi xe", "Ngậm ngãi tìm trầm", "Đò ngang"… được lấy cái cốt cái sườn và các nhân vật từ cái "trạm" đó".
Dòng dòng kỷ niệm
Theo Thanh Tịnh cho biết ông học chữ Hán khi tám tuổi, học chữ Hán trước khi học chữ quốc ngữ và tiếng Pháp ở chùa Ba La Mật (chùa do quan Bố chánh Nguyễn Khoa Luận, đạo hiệu Viên Giác xây dựng năm 1886). Ba năm sau, Thanh Tịnh được mẹ dẫn đến trường Mỹ Lý học chữ quốc ngữ "Buổi sáng mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, tôi không lội qua sông thả diều như thằng Quí và không ra đồng nô hò như thằng Sơn nữa. Trong chiếc áo vải dù đen dài tôi cảm thấy mình trang trọng và đứng đắn".
Nhớ Thanh Tịnh, tôi được các cụ già trong làng chỉ dẫn thăm thú lại nơi xưa. Cánh đồng làng Mỹ Lý không còn nữa. Con đường "Tôi đi học" ngày xưa nay được mang tên - đường Thanh Tịnh. Tôi ra chợ Vỹ Dạ nơi ngôi trường Mỹ Lý, Thanh Tịnh từng miêu tả "Trước đó mấy hôm, lúc đi ngang làng Hòa An bẫy chim quyên với thằng Minh, tôi có ghé trường một lần. Lần ấy trường đối với tôi là một nơi xa lạ. Tôi đi chung quanh các lớp để nhìn qua cửa kính mấy bản đồ treo trên tường. Tôi không có cảm tưởng gì khác là nhà trường cao ráo sạch sẽ hơn các nhà trong làng". Trường học làng tôi ở cạnh đình/ Một trường ba lớp vẻ xinh xinh/ Trước trường có mấy cây đào lớn/ Thường quyến lòng tôi những cảm tình (Trường học làng tôi, Thanh Tịnh, năm 1930)
Nhưng lần này lại khác. Trước mặt tôi, trường tiểu học Mỹ Lý không còn dấu tích nào nữa.
Năm 11 tuổi, Thanh Tịnh lên thành phố học ở trường Pellerin (Pen-lơ-ranh), gần Ga Huế. Trường này thu nhận học sinh toàn miền Trung (có Hàn Mạc Tử). Thanh Tịnh học giỏi, năm 1933, khi tròn 22 tuổi ông thi đỗ đíp-lôm, bắt đầu sống tự lập, xin làm nhân viên thư viện ở trường Prô-vi-đăng (nay là trường Đại học Khoa học Huế). Vừa làm, vừa học thi Tú tài. Thi đỗ ông được nhận vào ty Điền địa. Do công việc ông hay về các vùng nông thôn phía nam Huế (Nam Đông, Phú Lộc) điền dã. Thanh Tịnh bắt đầu viết văn, làm thơ và cộng tác với các báo. Truyện ngắn đầu tay "Cha làm trâu, con làm ngựa" đăng trên Thần kinh tạp chí năm 1934.
Những chuyến đi thực tế đã mở rộng hiểu biết về người nông dân, chuyện làng, xã, phong tục tập quán. Các truyện ngắn của Thanh Tịnh được hình thành như "Quê mẹ", "Ngậm ngãi tìm trầm", "Bên con đường sắt", "Tình thư" … Sau đó, ông chuyển hẳn sang nghề báo, làm thư ký biên tập Tập san nghiên cứu "Những người bạn của Huế cổ" (Les amis du vieux Huế) gần 6 năm. Trong thời gian này, ông còn làm hướng dẫn viên du lịch, vì vậy ông biết nhiều về văn hóa, kiến trúc, phong tục của Huế. Tháng 8 năm 1945, Thanh Tịnh là Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc Trung Bộ, ra Việt Bắc dự Đại hội Văn hóa. Đúng thời điểm toàn quốc kháng chiến, ông gia nhập bộ đội.
Ba mươi năm chẵn xa lâu nhỉ
Từ đó, chiến tranh đã chia cắt ông với quê hương, gia đình 30 năm (1945-1975). Năm 1954, miền Bắc hòa bình, Thanh Tịnh là Đại tá Quân đội nhân dân, Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ quân đội. Năm 1957, ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I, II. Ông gắn bó với Hà Nội đến lúc qua đời (17-7-1988).
Lần đầu tôi gặp nhà văn Thanh Tịnh về thăm làng Dương Nỗ năm 1985. Ông là người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi vóc dáng cao lớn, nét mặt thanh nhã, ánh mắt đăm chiêu; lúc trò chuyện thủ thỉ giọng Huế trầm đục, na ná anh Trịnh Công Sơn. Có rất nhiều giai thoại mà anh em văn nghệ sĩ vẫn lưu truyền về Thanh Tịnh, trong đó vui có, buồn có. Chuyện ngày tết của Thanh Tịnh ở Tạp chí Văn nghệ quân đội họ kể "Thanh Tịnh không chơi hoa đào, hoa mai như Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh...ông chơi...hoa giấy!". Vài người nghĩ ông "hà tiện". Về sau có ai đó hỏi, ông bảo "Mình chơi hoa giấy để nhớ về quê trong ấy. Tết ở Huế bao giờ cũng có hoa giấy". Làng nghề hoa giấy Thanh Tiên gần làng Dương Nỗ".
Nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn, từng làm việc ở tạp chí Văn nghệ quân đội đã "ký họa" chân dung ông: "Muốn biết Thanh Tịnh đơn độc thế nào, phải nhìn lúc ông đi bộ. Ông bước đi như không thể dừng lại nên phải bước, khuôn mặt đăm chiêu, dáng điệu đờ đẫn, ông nhìn thẳng về phía trước mà hoá ra chẳng nhìn gì cả. Đến cả bước chân của ông cũng không ai nghe tiếng nữa, chỉ tiếng thở dài là có thật".
Ngẫm suy hơn bảy mươi năm cuộc đời nhà văn Thanh Tịnh kể ra cũng hiếm có. Người chiến binh ấy đã đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ ác liệt mà vẫn giữ một hồn thơ tiền chiến trong sáng lãng mạn. Có lẽ, cái tên cúng cơm "Thanh Tịnh" đã nói thực tất cả về chàng trai họ Trần làng Dương Nỗ...