Thơ: Chữ và nghĩa

image003.jpg
Nhà thơ Xuân Diệu

1.nhà thơ Xuân Diệu có lần tâm sự về vần điệu trong nghệ thuật làm thơ ở một bài thơ viết trong thời kỳ nhân dân ta kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Có thể xem "Toàn tập Xuân Diệu", tập 5, tr.114-115, NXB Văn học, 2001. Xuân Diệu viết:

“Trong bài "Đi thăm bãi tha ma tàu bay giặc Mỹ" (1965) thì các vần lại học ở cái vía, cái hồn của vần trong nhiều bài thơ cổ điển. Các cụ ta ngày trước ưa dùng nhiều vần hiểm hóc, và rất hiểm hóc ở trong vần: đó là những tử vận. Ai vào đó mà không đủ tài thì chịu chết! Bậc thầy là Hồ Xuân Hương:

Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?...

Nguyễn Khuyến:

Ba gian nhà cỏ thấp le te
... Độ dăm ba chén đã say nhè?

Tôi nghĩ rằng các nhà thơ ta hiện nay đánh giặc Mỹ bằng tư tưởng, bằng ý thơ, và cũng nên đánh nó bằng vần thơ nữa, như các thi sĩ tiền bối. Vần "e" gợi một cái gì bị đập bẹp, bị kéo ra, bị đè: lè lưỡi, è cổ, nhè (kéo dài giọng). Vần "eo" còn hiểm hơn, eo là eo ôi, eo là vắng teo, là hắt heo, là chán phèo. Tôi phối hợp hai vần e, eo, với các vần của tên thằng giặc Mỹ, để đả kích nó tàu bay bị ta bắn xẹp, đè bẹp; nhất định là tôi đã nhớ chữ le te của Nguyễn Khuyến, chữ sè sè của Nguyễn Du (sè sè nấm đất bên đường):

Một lũ xác sè sè, le te, đui què, bẹ gí
Những thân hình ma quỷ Mỹ nằm queo
Thấy tro than, tưởng nghe tiếng cháy xèo
Vết sẹo lửa hãy còn đeo trên cánh!”.

Quả là một lao động thơ kỳ khu, mệt nhọc mà nhà thơ Xuân Diệu đã trình bày, đã tâm sự - trước hết với những người trong nghề. Chỉ chưa biết hiệu quả của nó đến đâu, với bài thơ này. Có thể có người thích. Có thể có người không thích. Tôi chỉ muốn đưa ra mà chưa muốn kết luận.

Duy có một điều, tôi lưu tâm hơn cả là ở chỗ khác: cái tên của bài thơ: "Đi thăm bãi tha ma tàu bay giặc Mỹ". Trong tập quán của mỗi người Việt Nam ta, đi thăm là một động tác, một cử chỉ ân cần, thân thiện: đi thăm người ốm, đi thăm người gặp tai nạn, đi thăm một danh lam thắng cảnh, v.v... Còn những cái xác máy bay giặc Mỹ, những thứ đã gây ra đau thương, chết chóc... cho bao nhiêu con người, bao nhiêu cảnh vật.. thì có gì mà phải đi thăm?

Theo tôi, phải chăng, nếu viết "Đi xem bãi tha ma tàu bay giặc Mỹ" thì thỏa đáng, đối với bài thơ này của nhà thơ Xuân Diệu?

2.Bài thơ "Tiếng hát đi đày" (1942) của nhà thơ Tố Hữu, trong bản in lần đầu tập "Thơ" (1946) và mấy bản in sau này nữa, có những câu:

Đường qua mấy phố Quy Nhơn
Nhà sao trông lại yêu hơn mọi lần
Người đi quần áo chen chân
Ồ sao như lại quen thân từ nào?

Ta hãy nghe nhà thơ Xuân Diệu nói về những câu thơ này:

"Tôi đã đọc, đã thuộc, đã ngâm theo bản in như thế, và đã nhiều lần đem đi trình bày trước công chúng như thế. Cả một cuộc kháng chiến lần trước, cho đến sau khi hòa bình 1954, có đến mười lăm năm trời, những câu thơ trên đây cứ tồn tại và bay đi với cái câu thứ ba:

Người đi quần áo chen chân

Sau đó, vào những năm 1957 - 1958, tôi ngồi ngẫm nghĩ kỹ về bài thơ thì bỗng nhận thấy rằng cái câu thứ ba nó ngang phè phè, tức anh ách. Tôi tự bảo mình: Sao anh Tố Hữu lại viết thế này?".

Về sau, đem câu thơ ấy hỏi chính Tố Hữu, Xuân Diệu mới biết câu thơ đã bị lỗi in sai. Nó vốn là:

Người đi quấn áo chen chân
Xuân Diệu viết tiếp:
Ồ! Có thế chứ.

Người đi quấn áo chen chân

Người cộng sản bị nhốt bấy lâu trong nhà tù Quy Nhơn, nay nó đưa anh lên xe, chở anh đi đày lên xứ Kông Tum, xe chạy qua phố xá Quy Nhơn, đối với mắt anh, sao mà thân yêu đến thế! Người đi trên đường, áo quấn vào nhau, chân chen vào nhau" (Bàn về sự tương xứng trong ngôn từ thơ, Báo Văn nghệ số 534, 25/1/1974).

Có lần, tôi đã viết: Tìm ra các lỗi trong câu thơ kia, Xuân Diệu xuất phát từ kinh nghiệm làm thơ lâu năm của anh. Ở đấy, có thư pháp đối xứng: quấn áo và chen chân.

Gần cây, nhà thơ Trần Đăng Khoa có bàn, đúng hơn là... tán về cái chuyện quấn áo này ở câu thơ Tố Hữu. Trên Báo Văn nghệ số 42 (18/10/2025) ở bài "Đọc lại thơ Tố Hữu, Trần Đăng Khoa viết: "Người đi quấn áo thì mới là áo của người tù, đấy là cái áo không mặc được nữa. Áo không còn ra áo, nó chỉ là tấm tã thôi, nó rách hết rồi, không mặc được nữa, không xỏ được tay vào áo nữa, nên người ta quấn cái mảnh vải đó, quấn cái tấm giẻ đó và người để cho nó ấm, quấn áo là vì thế".

Tôi thì lại cho quấn áo hoàn toàn không phải vì thế. Tôi cho quấn áo (và chen chân) ở đây tác giả muốn nói cảnh đông đúc, chật chội trên đường phố đến mức áo người này quấn vào áo người kia và chân người này chen với chân người kia). Hoàn toàn không có một chút dính dáng gì đến cái "áo của người tù" mà Trần Đăng Khoa đã tưởng tượng ra và... tán, càng tán càng sai!

Hãy lưu ý mấy câu này đã được trích dẫn ở ngay mấy dòng trên đây, nhà thơ Xuân Diệu nói đúng ý nhà thơ Tố Hữu: "Người đi trên đường phố, áo quấn vào nhau, chân chen vào nhau". Không thể có một cái "áo của người tù" nào ở đây cả!

3.Tôi còn nhớ, bài thơ "Ta đi tới" (8/1954) của nhà thơ Tố Hữu còn có những câu mà sau khi đăng báo, nhà thơ đã lược bỏ khi in vào sách. Đó là hai câu, sau câu "Ai về Hà Nội thì xuôi cùng thuyền", là:

Hòa bình buồm gió căng lên
Đường về đến bến Long Biên đã gần

Và, đó là một đoạn nữa, sau câu "Chí ta lớn như biển Đông trước mặt", là:

Hoan hô anh em ta
Ít-xa-ra Ít-xa-rắc
Bốn phương trời vỗ nhịp ta đi
Cảm ơn anh em ta Âu, Á Mỹ, Úc, Phi
Trung Quốc, Liên Xô chung tình, vĩ đại

Tiếp theo đó mới là câu:

Ta đi tới, không thể nào ngăn lại
Mục Nam Quan đến bãi Cà Mau...

Một lần nữa, trong lúc trò chuyện về thơ, tôi đọc cho nhà thơ Tố Hữu nghe những câu đã lược đi ấy. Tố Hữu thoáng một chút ngạc nhiên, rồi bảo ngay, có phần bực dọc:

- Thôi! Thôi! Bỏ đi rồi thì thôi! Nhớ làm gì!

Tôi lại nhớ, mấy năm trước, cùng trong một trường hợp tương tự, tôi đọc cho nhà thơ Trần Đăng Khoa nghe mấy câu thơ Khoa viết từ ngày nhỏ, nay anh sửa lại hoặc lược đi. Trần Đăng Khoa cũng tỏ vẻ... bất bình mà nói:

- Thơ em đã vứt đi, sao anh còn nhắc lại?

Ở đây, không hẹn mà nên, nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Trần Đăng Khoa đã tỏ ra... tâm đầu ý hợp. Đúng là tư duy của những người: sáng tác! Với những người nghiên cứu và phê bình như tôi thì có khác.

Tôi cần biết nhà thơ đã bỏ đi những câu nào, vì sao mà bỏ, bỏ thì hay hay dở, có thể sửa chỗ nào mà không phải bỏ cả câu thơ chăng v.v...

Nếu không như thế, làm sao tôi có thể phát hiện được rằng, có những câu thơ của Tố Hữu hay Nguyễn Bính chẳng hạn, khi đăng báo thì rất bình thường, thậm chí là dở, đến khi họ lược bỏ hoặc sửa lại để đưa vào sách thì bài thơ, câu thơ hay hẳn lên? Làm sao tôi có thể kết luận được rằng Tố Hữu và Nguyễn Bính là hai nhà thơ "biên tập" (sửa chữa, thêm bớt) thơ tài nhất trong các nhà thơ Việt Nam hiện đại?

4.Nhà thơ Tế Hanh dịch bài thơ "Người đẹp ngày xưa" của nhà thơ I-u-rep (Hung-ga-ri) có hai câu thơ ở gần cuối bài:

Như con nhớ mẹ chết rồi,
Tôi mong gặp lại con người xa xăm

Dịch như thế, tôi cho có chỗ... thô quá, khi người con nói về người mẹ. Theo tôi, nếu chỉnh lại câu trên là "Như con nhớ mẹ qua đời", câu thơ thanh hơn, thỏa đáng hơn.

Lại nhớ, nhà thơ Xuân Diệu dịch bài thơ "Can đảm với người yêu" của nhà thơ Mông Cổ D. Gôm-bô-giáp có hai câu cuối:

Rồi không muốn phanh phui tình cảm
Nàng ngoảnh đi, đôi mắt lớn mê lòng

Theo tôi, nếu câu thơ trên được dịch "Rồi không muốn giãi bày tình cảm", câu thơ lý thú hơn. "Phanh phui" mạnh hơn, thô hơn so với giãi bày nhẹ nhàng, cởi mở, hợp tâm trạng cô gái. Riêng "đôi mắt lớn" ở câu thứ hai, tôi chưa biết trong nguyên bản viết như thế nào, để tìm chữ cho hợp...

Hồng Diệu

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.