Khung cảnh hoàng hôn gợi nhớ về sự chia xa, những điều không bao giờ quay lại, sự mờ nhòa của ký ức, kéo tâm hồn ta chùng xuống trong một không gian u sầu mang cảm giác lạc lõng, mộng mị, đợi chờ vô vọng. Đó cũng là lúc trái tim con người trở nên mong manh yếu ớt, hay hoài niệm. Ở một chiều khác, hoàng hôn lại là một cảnh tượng tuyệt đẹp trong ánh nắng dịu dàng nhưng rực rỡ và mỹ lệ.
Hãy bắt đầu từ bài thơ “Chiều cuối năm”: Bất chợt trời mưa bay
Phố xa mờ trong gió.
Giữa cảnh tượng trời mưa, phố xá mờ mịt bất giác nhà thơ cảm thấy “Lịch trên tường bâng khuâng”. Bâng khuâng là một nỗi niềm, một cảm giác cô đơn. Một cảm thức về thời gian trôi đi để lại những giằng xé nội tâm, những duyên nợ mà cuộc đời đổ xuống. Nhưng rồi “Thời gian đi không về/ Theo nhau vào tuổi tác”, chuyện thường tình, lẽ đương nhiên của nhịp tuần hoàn, không có gì đặc biệt, nhưng tác giả vẫn tạo ra được những xúc động thẩm mỹ “Tan trong màu tóc bạc/ Lặng lẽ về tuổi thơ”. Bài thơ được đẩy lên, thả hồn vào chốn chơi vơi “Chiều rơi trong ngẩn ngơ/ Lẻ loi mình tờ lịch/ Chuyện đời về cổ tích/ Chuyện tình vào trăm năm”. Một cách cảm, một góc nhìn phóng khoáng bung mở, tạo ra nhiều cách tiếp cận vừa mơ hồ vừa xa xăm tiếc nuối.
Trong bài “Tiếng xuân về trong đêm” cũng là một lựa chọn tương tự “Tiếng xuân về trong gió/ Nồng nàn như hơi thở” không có logic nào ở đây. Xuân trong trường hợp này là một tính từ, còn hơi thở là một danh từ. Tác giả nghe thấy tiếng xuân và liên tưởng tới hơi thở nồng nàn của tình yêu thuở ban đầu. Đó là tiếng nói mang bản sắc riêng: Tôi nghe thấy thế và cảm thấy thế. Đó cũng chính là sự ngẫu hứng tự do. Kiểu như:
Tiếng xuân như nàng thơ
Thì thầm ngoài khung cửa
được liên tưởng với
Lời hẹn hò... Thuở đợi nhau bên thềm.
Người đọc có thể hiểu theo nhiều cách mà không bị gò bó trong một khuôn mẫu định sẵn…
Tác giả Bùi Quảng Bạ đã ở tuổi ngoài “Thất thập cổ lai hy”. Cái tuổi mà con người thường hay hướng về ký ức. “Có một loài hoa nở trong tuổi thơ/ Hương theo mãi chặng đường đời ta bước/ Hoa của riêng mình không ai có được/ Nước mắt mẹ trồng nơi đồng nội quê cha”. Nỗi nhớ về một loài hoa tuổi thơ đã đóng đinh vào cuộc đời, nó ám ảnh dai dẳng suốt những chặng đường đi tới. Trong bài thơ “Tiếng kèn chiều nghĩa trang”, ký ức với ông vừa là kỷ niệm cụ thể chiếc kèn nhưng đồng thời cũng vừa là một cảm giác, một nỗi niềm: “Chiếc kèn đã bạc màu/ Bản nhạc xưa thổi lại…Những bài ca xôn xao/ Cả một thời đánh Mỹ”.
Ký ức là thế, nó thường trở về khi ta gặp lại nhân chứng khiến những gì đã qua bất chợt ùa về. Nó chính là tấm gương phản chiếu quá khứ, giúp con người hiểu rõ tâm hồn, cảm xúc và hành động của chính mình. Nó cũng là căn tính cá nhân và cộng đồng. Nó kết nối thế hệ và là nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Và đây là câu thơ chất chứa nỗi niềm và thân phận: “Nỗi niềm lắng xuống đáy sâu/ Một đời than thở còn đau đến giờ/Vô tâm gió cứ dại khờ/ Nhởn nhơ vò nát mặt hồ tháng năm”. Cuộc đời là thế, chồng chất những ưu tư phiền muộn. Đau đớn, phi lý và cũng hụt hẫng hoài nghi bởi sự vô tâm của thói đời vô cảm.
“Trời gửi bóng mây vào đáy nước/ Trọn tình sông giữ sắc thanh vân/ Con sóng giận gì vùi mây biếc/ Để trời vỡ nát giữa xanh trong”. Niềm tin rắn chắc tưởng chừng như không gì lay chuyển bỗng bị đánh cắp. Tổn thương sâu sắc không khác gì lưỡi dao đâm vào tim ứa máu. Cuộc đời còn có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau bị phản bội, để lại vỡ nát tuyệt vọng.
Ở tập thơ “Hoàng hôn làng”, Bùi Quảng Bạ còn hướng cái nhìn về mọi phía. Khi viết về Trường Sa, nhà thơ không quên nhắc về Gạc Ma, nơi 64 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận chiến quyết tử bảo vệ chủ quyền Tổ quốc: “Những con sóng xô dồn nén căm thù/ Vỗ qua Gạc Ma một phần Tổ quốc/ Biển quặn lòng nỗi đau hòa sóng nước/ Dưới đáy sâu trầm tích một lời nguyền”. Người đọc nhìn thấy được máu của những người lính hòa vào sóng đại dương, thân xác họ vùi sâu vào lòng biển. Nước mắt nhà thơ như ứa ra, xót xa và căm giận.
Trong thế giới “Hoàng hôn làng” người đọc cảm nhận sâu sắc thứ tình cảm thiêng liêng, không thể đong đếm và là nguồn hạnh phúc vô bờ bến của một người con hiếu thảo sau bao năm tháng tha hương nay trở về quê mẹ “Thương về ngày ấy xa xôi/ Sương chiều ướt áo mẹ ngồi hái rau/ Thương về mấy thửa ruộng sâu/Lưng trần cha lội thay trâu kéo bừa”.
Đó là nỗi niềm của người con đã thấu hiểu sâu sắc sự hy sinh vô điều kiện, nỗi cơ cực tảo tần sớm hôm nặng nhọc kiếp người để nuôi con khôn lớn thành người mà không mong đền đáp. Đó cũng là bến đỗ bình yên suốt đời cho những đứa con tha hương. “Thương về mùa vắng cơn mưa/ Cháy trời thiếu nước mất mùa vụ đông/ Thương về mùa lũ dòng sông/ Tan hoang mặt nước sóng không vỗ bờ…”, “Thương về bóng mẹ cầu ao/ Chiều ngồi giặt áo xôn xao cánh chuồn/ Thương về một góc sân vườn/ Xa xăm kỷ niệm vui buồn tuổi thơ”. Một tình thương vô điều kiện mà người con luôn hướng về quê hương nguồn cội. Không chỉ vậy, quê hương còn là nơi ta ra đi và cũng là chốn trở về. Nơi gắn liền với ký ức tuổi thơ, đó là gia đình, bạn bè và những giá trị văn hóa truyền thống, là nơi chốn bình yên thân thuộc, tạo nên bản sắc và tình yêu thiêng liêng sâu sắc.
Có thể nói, trong “Hoàng hôn làng”, Bùi Quảng Bạ đã sống một cuộc sống trọn vẹn với mình và với cuộc sống xung quanh. Ông dầm mình trong nó, chấp nhận mọi vui buồn, sướng khổ để rồi từ đó viết lên những câu thơ mang lại niềm hạnh phúc cho cuộc đời mà trước hết là niềm hạnh phúc của cá nhân ông và bạn bè ông.
Sau khi đi gần hết cuộc đời, với những niềm vui và nỗi buồn, được và mất, ông vẫn còn day dứt với bao điều dang dở “Em vun cánh hoa đắp hình trái tim/Gom những sắc vàng trải trên hè phố/ Mưa chợt đến. Trái tim thành dang dở/ Người vội đi khi nhịp đập chưa đầy”. Viết về bàn tay:
Bây giờ qua tuổi sánh đôi
Soi gương thấy ngại đồi mồi chân chim
Bàn tay năm ngón lặng im
Nhấp nhô lên xuống nổi chìm, vào ra
Cái nắm tay cũng đã già…
Đó là trạng thái cảm xúc buồn bã cô đơn của con người khi phải đối mặt với thời gian và sự lão hóa, già nua về thể chất. “Sớm dậy hoa giăng ngoài cửa sổ/ Đêm vừa tỉnh giấc gió thu sang/ Lỡ một heo may mùa bão tố/ Ngỡ gặp duyên xưa đến muộn màng”, một nỗi buồn man mác, một tiếc nuối xa xăm của mối duyên xưa khôn nguôi ám ảnh. Và đây là bài thơ cuối cùng trong “Hoàng hôn làng”: “Tờ lịch cuối cùng không nỡ xé/ Cầm lên trĩu nặng một bờ vai/Năm đi, ngày hết lòng lưu luyến/Chia xa sao bỗng thấy đêm dài”. Bài thơ chỉ có bốn câu nhưng nén chặt lại cả một đời người. Chính xác là vậy, không có gì là trường cửu.
Sự trôi đi, mất đi của thời gian là một tất yếu, nơi quá khứ vĩnh viễn qua đi không thể níu giữ. Câu thơ gợi nỗi buồn thăm thẳm nhưng đẹp đến bâng khuâng, cho thấy sự hữu hạn của kiếp người và giá trị sống của từng khoảnh khắc hiện tại. Đó cũng chính là sự thật, là vẻ đẹp của tồn tại.