Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

img-9827.jpg
Thiếu tướng, GS.TS Bùi Quảng Bạ, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục An ninh, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học và Chiến lược Công an, tác giả tập thơ “Hoàng hôn của làng”, NXB Hội Nhà văn.

Khung cảnh hoàng hôn gợi nhớ về sự chia xa, những điều không bao giờ quay lại, sự mờ nhòa của ký ức, kéo tâm hồn ta chùng xuống trong một không gian u sầu mang cảm giác lạc lõng, mộng mị, đợi chờ vô vọng. Đó cũng là lúc trái tim con người trở nên mong manh yếu ớt, hay hoài niệm. Ở một chiều khác, hoàng hôn lại là một cảnh tượng tuyệt đẹp trong ánh nắng dịu dàng nhưng rực rỡ và mỹ lệ.

Hãy bắt đầu từ bài thơ “Chiều cuối năm”: Bất chợt trời mưa bay
Phố xa mờ trong gió.

Giữa cảnh tượng trời mưa, phố xá mờ mịt bất giác nhà thơ cảm thấy “Lịch trên tường bâng khuâng”. Bâng khuâng là một nỗi niềm, một cảm giác cô đơn. Một cảm thức về thời gian trôi đi để lại những giằng xé nội tâm, những duyên nợ mà cuộc đời đổ xuống. Nhưng rồi “Thời gian đi không về/ Theo nhau vào tuổi tác”, chuyện thường tình, lẽ đương nhiên của nhịp tuần hoàn, không có gì đặc biệt, nhưng tác giả vẫn tạo ra được những xúc động thẩm mỹ “Tan trong màu tóc bạc/ Lặng lẽ về tuổi thơ”. Bài thơ được đẩy lên, thả hồn vào chốn chơi vơi “Chiều rơi trong ngẩn ngơ/ Lẻ loi mình tờ lịch/ Chuyện đời về cổ tích/ Chuyện tình vào trăm năm”. Một cách cảm, một góc nhìn phóng khoáng bung mở, tạo ra nhiều cách tiếp cận vừa mơ hồ vừa xa xăm tiếc nuối.

Trong bài “Tiếng xuân về trong đêm” cũng là một lựa chọn tương tự “Tiếng xuân về trong gió/ Nồng nàn như hơi thở” không có logic nào ở đây. Xuân trong trường hợp này là một tính từ, còn hơi thở là một danh từ. Tác giả nghe thấy tiếng xuân và liên tưởng tới hơi thở nồng nàn của tình yêu thuở ban đầu. Đó là tiếng nói mang bản sắc riêng: Tôi nghe thấy thế và cảm thấy thế. Đó cũng chính là sự ngẫu hứng tự do. Kiểu như:

Tiếng xuân như nàng thơ
Thì thầm ngoài khung cửa
được liên tưởng với

Lời hẹn hò... Thuở đợi nhau bên thềm.

Người đọc có thể hiểu theo nhiều cách mà không bị gò bó trong một khuôn mẫu định sẵn…

Tác giả Bùi Quảng Bạ đã ở tuổi ngoài “Thất thập cổ lai hy”. Cái tuổi mà con người thường hay hướng về ký ức. “Có một loài hoa nở trong tuổi thơ/ Hương theo mãi chặng đường đời ta bước/ Hoa của riêng mình không ai có được/ Nước mắt mẹ trồng nơi đồng nội quê cha”. Nỗi nhớ về một loài hoa tuổi thơ đã đóng đinh vào cuộc đời, nó ám ảnh dai dẳng suốt những chặng đường đi tới. Trong bài thơ “Tiếng kèn chiều nghĩa trang”, ký ức với ông vừa là kỷ niệm cụ thể chiếc kèn nhưng đồng thời cũng vừa là một cảm giác, một nỗi niềm: “Chiếc kèn đã bạc màu/ Bản nhạc xưa thổi lại…Những bài ca xôn xao/ Cả một thời đánh Mỹ”.

img-7297.jpg
Tập thơ thể hiện sự hữu hạn của kiếp người và giá trị sống của khoảnh khắc hiện tại.

Ký ức là thế, nó thường trở về khi ta gặp lại nhân chứng khiến những gì đã qua bất chợt ùa về. Nó chính là tấm gương phản chiếu quá khứ, giúp con người hiểu rõ tâm hồn, cảm xúc và hành động của chính mình. Nó cũng là căn tính cá nhân và cộng đồng. Nó kết nối thế hệ và là nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật. Và đây là câu thơ chất chứa nỗi niềm và thân phận: “Nỗi niềm lắng xuống đáy sâu/ Một đời than thở còn đau đến giờ/Vô tâm gió cứ dại khờ/ Nhởn nhơ vò nát mặt hồ tháng năm”. Cuộc đời là thế, chồng chất những ưu tư phiền muộn. Đau đớn, phi lý và cũng hụt hẫng hoài nghi bởi sự vô tâm của thói đời vô cảm.

“Trời gửi bóng mây vào đáy nước/ Trọn tình sông giữ sắc thanh vân/ Con sóng giận gì vùi mây biếc/ Để trời vỡ nát giữa xanh trong”. Niềm tin rắn chắc tưởng chừng như không gì lay chuyển bỗng bị đánh cắp. Tổn thương sâu sắc không khác gì lưỡi dao đâm vào tim ứa máu. Cuộc đời còn có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau bị phản bội, để lại vỡ nát tuyệt vọng.

Ở tập thơ “Hoàng hôn làng”, Bùi Quảng Bạ còn hướng cái nhìn về mọi phía. Khi viết về Trường Sa, nhà thơ không quên nhắc về Gạc Ma, nơi 64 chiến sĩ đã anh dũng hy sinh trong trận chiến quyết tử bảo vệ chủ quyền Tổ quốc: “Những con sóng xô dồn nén căm thù/ Vỗ qua Gạc Ma một phần Tổ quốc/ Biển quặn lòng nỗi đau hòa sóng nước/ Dưới đáy sâu trầm tích một lời nguyền”. Người đọc nhìn thấy được máu của những người lính hòa vào sóng đại dương, thân xác họ vùi sâu vào lòng biển. Nước mắt nhà thơ như ứa ra, xót xa và căm giận.

Trong thế giới “Hoàng hôn làng” người đọc cảm nhận sâu sắc thứ tình cảm thiêng liêng, không thể đong đếm và là nguồn hạnh phúc vô bờ bến của một người con hiếu thảo sau bao năm tháng tha hương nay trở về quê mẹ “Thương về ngày ấy xa xôi/ Sương chiều ướt áo mẹ ngồi hái rau/ Thương về mấy thửa ruộng sâu/Lưng trần cha lội thay trâu kéo bừa”.

Đó là nỗi niềm của người con đã thấu hiểu sâu sắc sự hy sinh vô điều kiện, nỗi cơ cực tảo tần sớm hôm nặng nhọc kiếp người để nuôi con khôn lớn thành người mà không mong đền đáp. Đó cũng là bến đỗ bình yên suốt đời cho những đứa con tha hương. “Thương về mùa vắng cơn mưa/ Cháy trời thiếu nước mất mùa vụ đông/ Thương về mùa lũ dòng sông/ Tan hoang mặt nước sóng không vỗ bờ…”, “Thương về bóng mẹ cầu ao/ Chiều ngồi giặt áo xôn xao cánh chuồn/ Thương về một góc sân vườn/ Xa xăm kỷ niệm vui buồn tuổi thơ”. Một tình thương vô điều kiện mà người con luôn hướng về quê hương nguồn cội. Không chỉ vậy, quê hương còn là nơi ta ra đi và cũng là chốn trở về. Nơi gắn liền với ký ức tuổi thơ, đó là gia đình, bạn bè và những giá trị văn hóa truyền thống, là nơi chốn bình yên thân thuộc, tạo nên bản sắc và tình yêu thiêng liêng sâu sắc.

Có thể nói, trong “Hoàng hôn làng”, Bùi Quảng Bạ đã sống một cuộc sống trọn vẹn với mình và với cuộc sống xung quanh. Ông dầm mình trong nó, chấp nhận mọi vui buồn, sướng khổ để rồi từ đó viết lên những câu thơ mang lại niềm hạnh phúc cho cuộc đời mà trước hết là niềm hạnh phúc của cá nhân ông và bạn bè ông.

Sau khi đi gần hết cuộc đời, với những niềm vui và nỗi buồn, được và mất, ông vẫn còn day dứt với bao điều dang dở “Em vun cánh hoa đắp hình trái tim/Gom những sắc vàng trải trên hè phố/ Mưa chợt đến. Trái tim thành dang dở/ Người vội đi khi nhịp đập chưa đầy”. Viết về bàn tay:

Bây giờ qua tuổi sánh đôi
Soi gương thấy ngại đồi mồi chân chim
Bàn tay năm ngón lặng im
Nhấp nhô lên xuống nổi chìm, vào ra
Cái nắm tay cũng đã già…

Đó là trạng thái cảm xúc buồn bã cô đơn của con người khi phải đối mặt với thời gian và sự lão hóa, già nua về thể chất. “Sớm dậy hoa giăng ngoài cửa sổ/ Đêm vừa tỉnh giấc gió thu sang/ Lỡ một heo may mùa bão tố/ Ngỡ gặp duyên xưa đến muộn màng”, một nỗi buồn man mác, một tiếc nuối xa xăm của mối duyên xưa khôn nguôi ám ảnh. Và đây là bài thơ cuối cùng trong “Hoàng hôn làng”: “Tờ lịch cuối cùng không nỡ xé/ Cầm lên trĩu nặng một bờ vai/Năm đi, ngày hết lòng lưu luyến/Chia xa sao bỗng thấy đêm dài”. Bài thơ chỉ có bốn câu nhưng nén chặt lại cả một đời người. Chính xác là vậy, không có gì là trường cửu.

Sự trôi đi, mất đi của thời gian là một tất yếu, nơi quá khứ vĩnh viễn qua đi không thể níu giữ. Câu thơ gợi nỗi buồn thăm thẳm nhưng đẹp đến bâng khuâng, cho thấy sự hữu hạn của kiếp người và giá trị sống của từng khoảnh khắc hiện tại. Đó cũng chính là sự thật, là vẻ đẹp của tồn tại.

Trần Anh Thái

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Sự “cô đơn siêu tuyệt” trong thơ tình

Từ xưa đến nay, cảm giác cô đơn luôn hiện hữu trong thơ như một nguồn cảm hứng của các thi nhân. Có một số độc giả yêu thơ hỏi tôi: “Sự cô đơn trong thơ tình yêu có những dạng thức nào?”. Theo tôi trong thơ tình yêu truyền thống, cô đơn thường được hiểu như trạng thái tâm lý phát sinh từ chia lìa, xa cách hoặc khát vọng không thành.

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.